PT. Hoằng Thanh

Những bài viết thực về đời sống con người, vạn vật...

Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2013

Mùa Phật đản năm nay lớn hơn năm trước, vì thêm một sự kiện lớn...

Đúng 50 năm sau khi hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu
Ngày 27/5/1963, hoà thượng Thích Quảng Đức 67 tuổi, trụ trì chùa Quan Âm (Gia Định cũ) viết một lá thư cho Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc tình nguyện tự thiêu. Lời thỉnh nguyện này bị giáo hội bác bỏ. Tuy vậy ông vẫn quyết tâm thực hiện ý nguyện. Sáng ngày 11/6/1963, trước khi tự thiêu, ông đã viết lại một bức thư Lời Thỉnh Nguyện Tâm Huyết, nói rõ chủ định và nguyện vọng của ông.
Ngày 11/6/1963, tại ngã tư đường Lê Văn Duyệt - Phan Đình Phùng, đúng 10 giờ sáng, hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu trong tư thế kiết già trước sự chứng kiến của hàng trăm quần chúng và Phật tử.
Hình ảnh một hoà thượng trong ngọn lửa bốc cao vẫn ngồi kiết già im lặng tay chắp trước ngực đã tạo ấn tượng mạnh gây xúc động lớn trong nước và trên thế giới.
Chiều 11/6/1963, chính quyền ra lệnh phong tỏa chùa Xá Lợi ở Sài Gòn, nơi để di thể của thiền sư Quảng Đức. Bất chấp lực lượng cảnh sát, khoảng 15.000 người có mặt tại chùa Xá Lợi khiến chính quyền phải ra lệnh giải tán dân chúng tụ tập tại chùa Xá Lợi.
Trong nhiều ngày liên tiếp, quần chúng tới chùa Xá Lợi viếng di thể hòa thượng Thích Quảng Đức rất đông. Lễ rước di thể thiền sư Quảng Đức được định vào ngày 16/6/1963. Giới lãnh đạo Phật giáo đã dự tính tổ chức vào dịp này một cuộc biểu dương đoàn kết lớn...
Cúng dường 12.600 vị sư  trong mùa Phật đản
Và đây cũng là sự kiện chung mà năm nay Phật Giáo Việt Nam sẽ tổ chức có lẽ lớn hơn các năm trước:
1. Mừng ngày đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni đản sanh
2. 50 năm ngày bồ tát Thích Quảng Đức tự thiêu
Chính vì thế năm nay các phật tử khắp nơi sẽ ra sức góp một chút ít ý nghĩa vào ngày lễ bằng cách treo cờ, biểu ngữ, thuyền hoa trên sông,...rộng rãi và nhiều hơn những năm trước.
PT. Hoằng Thanh

Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2013

Đọc lại tiểu sử Hòa Thượng Thích Từ Nhơn - mới biết rằng nhiều vị cao tăng được sinh ra từ vùng quê Sa Đéc

Hòa Thượng Thích Từ Nhơn
Hòa thượng Thích Từ Nhơn, thế danh Nguyễn Văn Sáu, sinh năm Bính Dần (1926) tại Sa Đéc, nay là tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Diệu, pháp danh Thiện Đạo húy Hồng Diệu. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Tuất, pháp danh Diệu Minh.
Vốn sinh ra trong gia đình thượng lưu trí thức, Phật tử thuần thành, nhiều đời tin kính Tam bảo, nên khi còn nhỏ, Hòa thượng đã có cơ duyên ở trong chùa đi học. Ngài được thân sinh là Hòa thượng Hồng Diệu hiệu Thiện Đạo Trụ trì Phước Thạnh Cổ Tự đưa về Tổ đình Phi Lai xuất gia với Sư bá Hồng Pháp hiệu Thiện Minh (chú ruột), Trưởng tử Tổ Phi Lai, được Hòa thượng ban pháp húy Nhựt Sáu, hiệu Từ Nhơn, nối pháp dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 41.
Năm 1936, Hòa thượng được Bổn sư cho thọ giới Sa di tại Giới đàn chùa Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Lợi, huyện Thạnh Hòa, tỉnh Bạc Liêu do Hòa thượng Huệ Viên tổ chức và cung thỉnh Tổ Vạn An (Hòa thượng Thích Chánh Thành) đương vi Chứng minh, Hòa thượng Bửu Chung chùa Phước Long đương vi Pháp sư, Hòa thượng Chánh Quả chùa Kim Huê đương vi Bố tát.
Từ năm 1944 – 1946, Hòa thượng theo học lớp Phật học tại chùa Long An, Sa Đéc, do Quý Hòa thượng Thích Khánh Phước, Thới An, Hành Trụ, Thiện Tường… chủ giảng.
Năm 1945, để viên mãn Tam đàn giới pháp, Hòa thượng đã đăng đàn thọ Đại giới Tỳ Kheo Bồ tát tại Tổ đình Vạn An, rạch Cái Xếp, nay thuộc xã An Nhơn, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, do đại lão Hòa Thượng Luật sư Thích Chánh Quả, Trụ trì Kim Huê cổ Tự làm Đàn đầu Hòa Thượng.
Sau khi trở thành Pháp khí trong ngôi Tam bảo, để mở mang kiến thức Phật học, Hòa thượng đã tiếp tục theo học Kinh luật luận với các Trưởng lão Hòa thượng tại Trường Gia giáo Phi Lai - Châu Đốc, Tổ đình Thiên Thai – Bà Rịa, Lưỡng Xuyên Phật học – Trà Vinh, Tổ đình Vạn An, Tổ đình Kim huê, Long An Cổ tự - Sa Đéc v.v…

Cố Hòa Thượng Thích Viên Hảo 

cố Hòa Thượng Thích Viên Hảo
Hoà thượng Thích Viên Hảo tên thật là Tô Thế Bình, sinh năm 1932 quê ở thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Từ nhỏ, cậu bé Bình sống với ông nội cho đến  năm 11 tuổi. Quê hương ông có dòng sông Sa Đéc nối từ nhánh sông Tiền chảy qua xóm chợ rất đẹp và thơ mộng.Đó cũng là nơi lưu dấu mối tình đầu rất đẹp của công tử Huỳnh Thủy Lê đất Sa Đéc với nữ văn sĩ Pháp Marguerite Duras, mà sau này được thể hiện thành tiểu thuyết và phim ảnh “Người tình” dịch ra vài chục thứ tiếng.

Quê hương của Hòa thượng còn là vương quốc cây hoa kiểng với làng hoa Tân Quy Đông nổi tiếng thiên hạ từ xa xưa. Mỗi năm đến mùa Tết, hoa từ làng xuống ghe xuồng, lên xe tải để đi khắp nơi phục vụ mọi người đón xuân. Đây cũng là quê hương của nhà bác học, kỹ sư Lưu Văn Lang.

Tu hành là do căn duyên, không phải ai trên đời xuất gia cũng thành hòa thượng. Mọi thứ không phải con người chọn lựa, mà do bổn tánh từng người thích hợp hay không thích hợp với căn tu. Vì thế mà nhà Phật khuyên con người, trước hãy lo tu tâm, sau mới nghĩ đến tu Phật. Có lời khuyên vàng ngọc rằng: “Buông hạ đồ đao, lập địa thành Phật”. Bất luận làm nghề gì, việc gì, chỉ cần có tâm thiện, hướng Phật là có Phật trong tâm.

Nhắc lại chuyện, nếu không có sự kiện ông nội của Bình mất, chưa chắc Tô Thế Bình đã theo cửa Phật sau này, cũng như việc tham gia vào tổ chức biệt động thành.  Sau khi ông nội Bình qua đời, gia đình mai tang rồi gửi bài vị lên chùa thờ cúng để ông hưởng phần nhang khói quanh năm và sớm chiều nghe chuông mõ công phu đặng siêu thoát. Hàng ngày, cậu Bình lên chùa thắp nhang cho ông, nghe kinh kệ và quen dần với chuông mõ công phu. 
Dường như căn tu đã có nghiệp duyên cho đời cậu, nên Bình rất say mê cảnh chùa, việc chùa, không màng đến cõi phàm như đám bạn nhỏ suốt ngày kéo nhau hái trái trong vườn, bắt ốc mò cua, bắt chuột, bắt cá và nhảy tắm sông. Rồi một thời gian sau, cậu Bình xin gia đình xuất gia đi tu theo cõi Phật.

Năm 21 tuổi, Bình được các sư thầy cho theo học kinh Phật ở chùa An Quang, Sài Gòn. Đúng 9 năm sau, vào lúc 30 tuổi, nhà sư Thích Viên Hảo (pháp danh của Tô Thế Bình) làm trụ trì tại một ngôi chùa nhỏ có tên là chùa Tam Bảo ở đường Dương Công Trường, Quận 10, TP. HCM ngày nay. Nhớ lại chuyện cũ của 27 nhà sư thành Nam Định đất Bắc năm xưa :
“Nghe theo tiếng gọi của núi sông
 Cà sa gửi lại chốn thư phòng”

Chùa Tam Bảo nằm trong hẻm nhỏ, mới xây dựng nên ít người để ý tới. Hơn nữa, không một ai biết rằng, nhà sư trẻ pháp danh Thích Viên Hảo là một chiến sĩ biệt động. Trong lớp áo cà sa của nhà sư là một tinh thần cách mạng sôi sục, tiến công, đánh thẳng vào sào huyệt kẻ thù ngay giữa trung tâm thành phố Sài Gòn. Hàng ngày, sư Thích Viên Hảo đi đó đây làm phật sự, gặp các phật tử, cốt yếu là để dò la tình hình quân địch, nắm thông tin tình báo.

Cũng từ ngôi chùa Tam Bảo này, nhà sư Thích Viên Hảo đã trở thành một chiến sĩ biệt động thành thuộc Phân khu 6. Đơn vị này do đồng chí Nguyễn Văn Tăng làm Chỉ huy trưởng và đồng chí Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu) làm Chỉ huy phó. Chùa Tam Bảo đã trở thành nơi đi về, hội họp bí mật của đội biệt động trong một thời gian dài.

Tranh thủ thời gian rảnh rỗi, nhà sư Thích Viên Hảo đào hầm để anh em có nơi trú ẩn và chứa vũ khí. Nhiều đêm, nhà sư thức trắng một mình cặm cụi  đào hầm phía sau tượng Phật nơi chánh điện, rồi khuân từng thúng đất đổ nền, xóa lấp dấu vết, để có một căn hầm rộng rãi, không ngột ngạt cho anh em biệt động trú ẩn an toàn, bí mật và lâu dài khi bị địch truy đuổi.

Nhà sư như một Ngưu Công đào núi, một Dã Tràng se cát để có căn hầm bí mật cho anh em biệt động Sài Gòn. Nhà sư Thích Viên Hảo còn có hai người em trai là Tô Chi Lư và Tô Ngọc Sử chí thú làm ăn, chưa tham gia cách mạng. Những việc làm của nhà sư đã thuyết phục và dần dà lôi kéo hai người em trai gia nhập tổ chức biệt động Sài Gòn trong vỏ bọc viên chức, giáo viên.

Có lần, trong cuộc gặp mặt các tử tù, tù chính trị do thành phố tổ chức tại nhà thi đấu Phú Thọ, Quận 10, Hoà thượng Thích Viên Hảo, chiến sĩ biệt động Sài Gòn-Gia Định, bồi hồi nhớ lại chuyện cũ với lời kể trầm ấm như đang thuyết pháp: “Nhà chùa khi ấy mới chỉ có hai dãy nhà chạy xuôi tạm bợ và gian chính để thờ Phật đang trong giai đoạn xây dựng. Lợi dụng vận chuyển vật liệu, xe cộ ra vào thường xuyên, tôi đào hầm trong chùa để giấu cán bộ và chứa vũ khí, đạn dược. Sau này tôi còn mở rộng hầm để hội họp, có thể tạm lánh lâu dài”.

Với bề ngoài là nhà tu hành nên nhà sư Thích Viên Hảo khá thuận tiện trong việc thu thập tin tức, giao tiếp với các cơ sở bí mật của đội biệt động thành. Hoà thượng được tổ chức giao nhiệm vụ chính là đảm bảo cơ sở an toàn, hướng dẫn đường đi, vẽ sơ đồ, trinh sát các địa điểm mà người thường rất khó tiếp cận. 

Một buổi sáng trước năm Mậu Thân 1968, trong dòng người đông đúc theo các ngả đường hướng về nội đô, người ta thấy có bóng dáng một nhà sư với chiếc áo nâu sòng đi hành đạo. Khuôn mặt rất từ bi, điềm tĩnh, nhà sư chắp tay vái chào cảnh sát, mật thám với câu: “A di đà Phật!”.

 Địch dù kiểm tra gắt gao đến mấy vẫn không ngờ được rằng chính nhà sư đó lại là một chiến sĩ biệt động thành đang vận chuyển vũ khí, đạn dược về cho cơ sở nội thành để tập kết, chuẩn bị cho cuộc tấn công và nổi dậy vào Tết Mậu Thân. Đã có rất nhiều lần, nhà sư Thích Viên Hảo dùng xe gắn máy đi Củ Chi chở chất nổ, súng K54, thậm chí cả súng cối 81 ly về nơi tập kết an toàn bằng cách ngụy trang khéo léo như nhà chùa đang chở các vật dụng cúng bái.

Hoà thượng Thích Viên Hảo từng kể lại : “Năm 1968, lúc này chủ trương của ta cần nhiều thuốc nổ để gây nhiều tiếng nổ trong nội thành Sài Gòn làm rối loạn, hoang mang quân địch nhưng địch kiểm soát, lục lọi rất gắt gao các ngả đường vào thành phố, đặc biệt là hướng Củ Chi, Hóc Môn. Tình thế rất cấp bách, khẩn trương, bằng mọi cách phải vận chuyển thuốc nỗ, súng đạn về nơi tập kết. Thấy vậy, tôi xung phong đi Củ Chi vận chuyển đạn dược, thuốc nổ… về nội thành.
 Để vận chuyển an toàn súng cối 81 ly, tôi phải dùng xe ba gác chở những ống cống xi măng và giấu súng cối vào trong đó. Gặp lính kiểm soát tôi nói vận chuyển về xây dựng chùa. Thế là chúng cho qua. Cứ như vậy, tôi đã vận chuyển thuốc nổ, súng đạn vào nội thành và chuyển đi khắp nơi rất an toàn”.

Ban ngày, Hoà thượng đi thực địa, vận chuyển vũ khí, còn tối lại vẽ sơ đồ các trận đánh cho đơn vị. Chùa Tam Bảo đã trở thành nơi xuất phát của các chiến sĩ biệt động thành Sài Gòn - Gia Định khiến địch khiếp vía, mất ăn mất ngủ. Chiến sĩ biệt động Tô Thế Bình đã cùng đồng đội đánh hàng chục trận như: cầu treo bến xe Sài Gòn, trạm điện ở Trường đua Phú Thọ, cabin điện Chợ Thiếc, đánh mìn Nhà Quốc Hội khu vực bến Chương Dương…

Những trận đánh vang dội của biệt động Sài Gòn với súng đạn, thuốc nổ khối lượng lớn giữa nội đô đã khiến cho CIA và cơ quan Đặc phủ Tình báo Trung ương Sài Gòn điên tiết, gắt gao truy tìm khắp nơi. Chúng tăng cường mạng lưới tay sai, “chó săn” sục sạo. Vào cuối năm 1968, khi chuẩn bị cho chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân, Hoà thượng Thích Viên Hảo đã bị kẻ phản bội chỉ điểm và sa vào tay địch...

Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
Đại lão hòa thượng Thích Trí Tịnh
Hòa thượng Thích Trí Tịnh thế danh là Nguyễn Văn Bình, sanh ngày 17 tháng 10 năm 1917 (ngày 02 tháng 09 năm Đinh Tỵ), tại xã Mỹ An Hưng (Cái Tàu Thượng), huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp).Là con út trong gia đình có sáu anh chị em. Thân phụ Ngài là ông Nguyễn Văn Cân, một nông dân chơn chất. Cụ ông qua đời lúc Hòa thượng mới lên ba tuổi. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Truyện, mất lúc Hòa thượng vừa được bảy tuổi. Vì mồ côi cả cha lẫn mẹ quá sớm, nên Hòa thượng ở với người anh thứ ba là ông Nguyễn Văn Đặng (nay đã qua đời). Hòa thượng có ba chị gái: thứ hai, thứ năm và thứ sáu. Người thứ tư thì mất sớm.
Đến năm 10 tuổi, Hòa thượng mới vào học lớp năm (thời đó, lớp năm là lớp thấp nhất). Hòa thượng rất thông minh, vừa học vừa dạy lại các cháu. Ban đêm còn đọc truyện Tàu cho mọi người nghe. Đúng 15 tuổi, Hòa thượng học đến lớp đệ thất, rồi sang học chữ Nho với người chú và học thuốc Bắc với người anh họ.
Hòa thượng thấy cảnh lục đục của gia đình anh chị nên có ý xuất ly thế tục. Từ đây, Hòa thượng bắt đầu tìm hiểu đến các tôn giáo như Thiên Chúa, Cao Đài, Thông Thiên Học v.v... và đặc biệt quan tâm đến Phật giáo, vì chủ thuyết của các tôn giáo kia có nhiều điểm Hòa thượng không thỏa mãn được. Từ đó, Hòa thượng âm thầm tập niệm Phật, trì chú, và quán từ bi. Ngài đến các chùa, đa số thấy quý thầy chú trọng về việc làm đồ mã, cúng bái, đi đám. Trên bàn thờ thì tối om, thờ nhiều tượng, tượng nào cũng đội khăn đỏ trông phát sợ nên không có cảm tình lắm. Hòa thượng cho rằng, các vị cao Tăng có lẽ ẩn dật nơi non cao núi thẳm, nên có ý hoài vọng các chùa trên núi.
Năm 18 tuổi, Hòa thượng bắt đầu ăn chay trường. Ứng theo điềm chiêm bao, Hòa thượng thấy có một ông già bảo rằng: "Con có căn tu, phải cần tìm thầy học đạo thì sẽ được như trong sách ước", ông già còn bảo thêm: "Chừng nào cọp chết, rắn mới về non" (Hòa thượng tuổi Tỵ).
Năm 1937, lúc Hòa thượng 21 tuổi, cùng người bạn lên Sài Gòn lập nghiệp, ở chung nhà trọ. Nhà ấy có một người đi chơi ở Tây Ninh về mua được một con cọp con, đem về nuôi được chín, mười ngày thì nó chết. Ứng điềm chiêm bao, Hòa thượng liền thu xếp tìm đường xuất gia. Trước đó, tuy đã có ý định xuất thế cho sớm nhưng còn người chị thứ sáu chưa lập gia đình nên không nỡ bỏ đi. Nay bà chị đã yên bề gia thất, Hòa thượng yên tâm ra đi, để lại cho các anh chị mỗi người một lá thư và một tấm hình.
Hòa thượng đi thẳng lên núi Cấm, vì trước đã nghe có nhiều vị chân tu trên núi ấy. Vừa đến chân núi, vì quá vui mừng nên quăng cả giày dép. Hòa thượng nhảy từ tảng đá này qua tảng đá khác và nguyện ghé lại ngôi chùa nào trước thì sẽ xuất gia ở đó, dù chưa biết chùa đó tên gì, trụ trì là ai. Và rồi nhân duyên đưa Ngài đến ngôi chùa Vạn Linh, là một ngôi chùa ở xa và cao nhất. Hòa thượng vào chùa xin xuất gia. Lúc đó, Hòa thượng trụ trì không ở trong chùa mà ở thất riêng ngoài bìa rừng, chỉ khi nào có việc thì sau giờ Tịnh độ mời vào dạy bảo Tăng chúng ít lời. Hôm ấy là tối 14 tháng 02 năm Đinh Sửu, ngày Sám hối giữa tháng. Sau giờ Sám hối, chúng ra thưa, Hòa thượng trụ trì vào, Hòa thượng trụ trì nhìn sững Hòa Thượng hồi lâu rồi mới nói rồi mới nói với đại chúng: "Bay đừng khinh thường thằng này. Đời trước nó đã làm Hòa thượng, đời nay nó cũng làm Hòa thượng, nhưng vì có tội hay nhìn con gái nên đời này bị bệnh mắt suốt đời. Thế là hôm sau, Hòa Thượng được thế phát vào ngày vía Phật nhập Niệt bàn.
Sau khi xuất gia, Hòa thương lãnh việc viết sớ điệp. Hòa Thượng trụ trì cho Ngài ở cái thất nhỏ trong vườn chùa. Ngoài các việc và thời khóa trong chùa, Hòa Thượng còn ra thất tụng kinh và làm bổn phận hết sức cần mẫn. Ngài hành khổ hạnh như nhịn ăn, ít ngủ, đến đổi Hòa Thượng trụ trì phải cảnh cáo. Có lúc đang ăn, vì quá để tâm đến sự tu nên rơi chén lúc nào mà không hay.
Nhận được tạp chí Từ Bi Âm, Hòa Thượng phát khởi ý nguyện học rộng Phật Pháp. Cuối năm 1939, Hòa Thượng xin phép Hòa Thượng trụ trì xuống núi về Sài Gòn để tìm học kinh luật.
Về đến Sài Gòn, Hòa Thượng cùng thầy Thiện Phước ra núi Thị Vải tìm chỗ thích hợp để cất thất. Sau cùng, tìm được một điểm tương đối tốt gần chùa Tổ (nay là Linh Sơn Bửu Thiền). Trong chùa có cho mượn dụng cụ đốn cây và dẫn nước về. Thời gian đó chưa có ai ở nhiều, nên sơn lam chướng khí rất nặng. Vì thế, chẳng mấy hôm, Hòa Thượng và thầy Thiện Phước đều bị bệnh sốt rét, lên cữ từng cơn. Thấy không kham nổi nên hai người đồng xuống chân núi. Thầy Thiện Phước thì tá túc nơi am của bà Năm, Hòa Thượng thì tá túc nơi hang đá của bà Bảy. Vài hôm sau, thầy Thiện Phước tịch. Hòa Thượng bèn về Sài Gòn tá túc ở chùa Tịnh Độ, Gò Vấp. Chùa này do ông Tư Lành làm xếp ga xây dựng lên. Nhà ông ở phía trước, chùa xây phía sau có thỉnh quí thầy để trụ trì. Hòa Thượng đến bệnh viện Sài Gòn để điều trị nhưng cũng chẳng thuyên giảm. Thấy vậy, Ngài tự nguyện với lòng: “Có chết như huynh Thiện Phước cũng chẳng sao”. Thế nên, không quan tâm đến việc trị bệnh nữa mà phát tâm tả kinh Pháp Hoa. Có một Phật tử biét tâm nguyện của Hòa Thượng, giúp tìm mua giấy mực. Đến ngày 14 tháng 10 là tả xong. Đúng hôm ấy, trong khi gởi để đóng lại thành quyển, chưa đem về thì có ông Mười là bổn đạo trong chùa đến nói với Hòa Thượng: “Tôi biết có ông thầy kia trị bệnh sốt rét hay lắm, để tôi đưa huynh đến đó xem sao!”.
Ông bèn lấy xe đạp chở Hòa Thượng đến đó. Ông thầy thuốc không có nhà riêng, ở đậu nhà người ta mà làm thuốc. Sau khi hỏi bệnh trạng và giờ lên cữ, ông nói bệnh nặng lắm vì lên cữ khuya. Ông vào nhà sau, một lúc đem ra cục thuốc để trên miếng giấy, quan sát thì Hòa Thượng biết có ớt và tỏi đâm chung. Ông bảo trước khi lên cữ nửa tiếng, lấy tay mặt với ra sau lưng, từ trên cổ lần xuống hết ngón tay giữa chấm chỗ nào thì đó là huyệt cao quan, lấy cục thuốc ịn vào đó (cục thuốc được để trên miếng giấy mỏng chừng 3 ngón tay), rồi cứ ngồi ngay ngắn chờ. Hòa Thượng về làm y như vậy. Nửa tiếng sau khi ịn cục thuốc, cơn sốt rét bắt đầu kéo đến. Như mọi lần, nó bắt đầu từ xương khu quặn lên như con rắn bò, đến cục thuốc nó dừng lại và quặn vòng quanh đó dữ lắm rồi lại ngưng, làm như vậy ba lần rồi ngưng luôn. Từ đó căn bệnh sốt rét dứt hẳn.
Sau khi hết bệnh, Hòa Thượng ở lại chùa đó một thời gian ngắn nữa. Về sau, có người em gái họ đã xuất gia, Pháp danh là Diệu Trí ghé thăm. Cô ấy có khoe với Hòa Thượng là được học kinh này kinh nọ và khuyên Hòa Thượng nên tìm học. Lúc bấy giờ, chỉ có trường An Nam Phật Học mở ở chùa Báo Quốc tại Huế, trong tâm Hòa Thượng khởi ý đi Huế từ đó.

Đầu năm 1940, Hòa Thượng về lại Cái Tàu để xin giấy ra Huế học, nhưng chính quyền không cho, bảo Hòa Thượng phải ở lại năm bảy tháng mới cấp giấy. Hòa Thượng không chờ được nên lên Sài Gòn tìm cơ hội để đi, được một thí chủ là ba Ba Hộ (chủ đất chùa Vạn Đức) cúng dường 15 đồng làm lộ phí. Đúng ra, đi tàu suốt đến Huế thì khỏe hơn, nhưng bấy giờ, Huế thuộc vùng bảo hộ của Pháp, còn miền Nam là thuộc địa, nên ra đấy phải có giấy như xin Passport ra nước ngoài vậy. Vì thế, Hòa Thượng phải đi từng chặng. Hòa Thượng lên tàu đi Phan Thiết, đến nơi thì đã trưa, Hòa Thượng kêu xe kéo đến chùa nào gần cũng được, vì thật sự cũng không biết chùa nào mà đến. Xe kéo Hòa Thượng đến chùa Bình Quang, Hòa Thượng vào chùa xin cơm. Chùa dọn cơm xong, lúc sắp ăn thì vị Ni trụ trì nói: “Huynh à! Chư Tăng ở đây đi đường hay ăn cơm là phải mặc áo dài, sao huynh không mặc?”. Hòa Thượng làm thinh, trong bụng thầm nghĩ: “Cũng muốn mặc lắm nhưng có đâu mà mặc”. Sau này vị Ni đó vẫn còn nhớ chuyện cũ, trong tâm tiếc rằng phải chi lúc ấy cúng dường cho Hòa Thượng một hai cái áo dài nào có khó gì, lại còn gieo được phước lành cúng dường bước đầu cho một vị cao Tăng sau này.
Sau khi ăn cơm xong, Hòa Thượng lại tiếp tục ra bến xe để đi Bình Định, vì trước khi đi, Hòa Thượng có đến tòa soạn báo Từ Bi Âm, gặp Hòa Thượng trụ trì chùa Liên Tôn ở Bình Định, lúc đó là Phó chủ bút, còn Hòa Thượng Bich Liên làm chủ bút. Ra đến Bình Định, Hòa Thượng tìm lại chùa Liên Tôn. Hôm đó, Hòa Thượng trụ trì còn ở Thành phố chưa về. Trong chùa, chỉ có một vị thầy trông coi gọi là thầy Khố. Ít hôm sau, Hòa Thượng trụ trì về, có cả cô Diệu Trí và có thị giả. Hòa Thượng bèn xin tạm ở đây tu học. Hòa Thượng trụ trì nhờ Hòa Thượng viết lại Bát Nhã Tâm Kinh mà Hòa Thượng đã giảng và in từng kỳ trong báo Từ Bi Âm, ghép lại thành tập để in ra phổ biến. Thời gian đó, Hòa Thượng trụ trì có giảng “Cảnh Sách Cú Thích Ký”, chủ yếu là dạy cho cô thị giả, Hòa Thượng và cô Diệu Trí cũng theo học. Cô Diệu Trí có nhờ ngoài Bắc thỉnh một số kinh chữ Hán, giúp đỡ cho Hòa Thượng có tài liệu để học. Cô Diệu Trí đề nghị Hòa Thượng nên ra Huế vào trường học tốt hơn. Thế nên, Hòa Thượng ở đó được ba tháng thì tiếp tục lên đường ra Huế, còn cô Diệu Trí thì về lại Sài Gòn. Lúc đó là tháng 08 năm 1940.
Ra đến Huế, Hòa Thượng cũng không biết đến chùa nào, mới nhờ mấy người kéo xe. Họ nói ở chùa Tây Thiên có quí thầy ở miền Nam ra. Hòa Thượng nhờ họ kéo đến đó. Chùa Tây Thiên là chùa của Hòa Thượng Giác Nhiên, vị tăng Thống thứ hai của GHPGVNTN. Ở đó, Hòa Thượng gặp Hòa Thượng Thiện Hòa, Thiện Hoa. Hòa Thượng Giác Tâm chùa Duyên Giác ở Bến Tre thì đã ra trường trước. Ở đây cũng có dạy kinh Lăng Nghiêm. Sau buổi học, thầy Giác Tâm bảo Hòa Thượng đọc lại phần đã học. Hòa Thượng đọc lại, giảng nghĩa rành rẽ. Thầy Giác Tâm thấy thế mới đề nghị Hòa Thượng nên đến trường lớp, vấn đề liên hệ thầy Giác Tâm sẽ lo cho.
Hòa thượng được nhận vào học và được cấp học bổng, vì một thân một mình không ai bảo trợ. Khi Hòa thượng vào học thì lớp đó là năm thứ sáu của Tiểu học (Sơ cấp) còn vài tháng nữa là thi lên Trung học (Trung cấp). Các môn khác thì Hòa thượng học không khó lắm, chỉ có môn Duy Thức là mù tịt không biết gì. Lúc đó đang dạy Duy Thức Dị Giản sắp hết, Hòa thượng mới mượn tập xem lại từ đầu và dần dần hiểu ra. Sao khi hết quyển cho làm bài kiểm tra với chủ đề là Bát Thức Đồng Dị. Bài đó, Hòa thượng được chấm chín điểm rưỡi, cao nhất lớp. Việc này đã làm xao động trong chúng. Hòa thượng được Hòa thượng Đốc Giáo để ý. Đến cuối năm, khi thi lên Trung cấp, học chúng lo ngại nếu Hòa thượng đứng đầu thì mất thể diện những người học lâu. Sau khi thi viết, đến phần khảo hạch miệng. Bác sĩ Lê Đình Thám phụ trách môn này. Cách thi là lật quyển sách nhằm trang nào thì giải thích trang đó. Vì lật nhằm trang chưa học nên Hòa thượng giải thích chưa được trúng lắm. Giáo sư Lê Đình Thám cười và nói: "Chú này đến sau, mà sau này sẽ hữu dụng!". Chung cuộc, Hòa thượng cũng được đứng hạng bảy.
Đầu năm 1941, Hòa thượng thọ giới Sa-di tại Huế với Đại lão Hòa thượng chùa Quốc Ân. Sau đó, tiếp tục học lên Trung đẳng và tốt nghiệp vào cuối năm 1942. Đến năm 1945 thì tốt nghiệp Cao đẳng. Cũng năm này, trường An Nam Phật Học dời vào Tòng Lâm Kim Sơn, Hòa Thượng được Hội và Ban giám đốc cử làm Giám viện Quản đốc trường. Kế đó, vì nạn đói ở Huế cũng như cả miền Bắc, nhà trường quyết định chuyển học Tăng Sơ đẳng và Trung đẳng khoảng 40 vị vào Nam và giao toàn chúng cho Hòa thượng quản lý. Hòa thượng Thiện Hoa và Hòa thượng Trí Quang lo chỗ nơi, mục tiêu hướng đến là Lưỡng Xuyên Phật Học. Vào đến Nam, đoàn học Tăng tạm ở lại chùa Vĩnh Tràng, Mỹ Tho do thầy Trí Long trụ trì. Thầy Trí Long cũng là một học Tăng trong đoàn. Hòa thượng Thiện Hoa và Hòa thượng Trí Quang trở về Lưỡng Xuyên lo sắp xếp, còn Hòa thượng về chùa Kim Huê, Sa Đéc tạm ở và lo nhập thất. Ngày 19 tháng 06 năm 1945, Hòa thượng được thọ Đại giới tại Đại Giới Đàn tổ chức tại chùa Long An, Sa Đéc, do Đại lão Hòa thượng chùa Kim Huê làm Hòa thượng đàn đầu.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 phát động, Lưỡng Xuyên Phật Học bị phân tán. Hòa thượng Thiện Hoa về chùa Phật Quang ở Trà ôn, Cần Thơ do Hòa thượng Thiện Tâm là anh ruột làm trụ trì, xây dựng tạm mái trường. Hòa thượng từ Sa Đéc về Phật Quang, cùng Hòa thượng Thiện Hoa tập họp các học Tăng lập thành trường Phật Học Phật Quang, khai giảng vào cuối năm. Học Tăng trường Phật Quang phần đông là học viên mới còn tốp cũ phần động tự phân tán vì quốc biến.
Cuối năm 1946, gặp nạn thổ dậy, địa phương không được ổn định. Hòa thượng dời một số học Tăng về tạm ở chùa Vạn Phưóc, Phú Lâm, Chợ Lớn. Sau đó, Hòa Thượng cùng thầy Huyền Dung xây dựng thành lập Liên Hải Phật Học Trường, quy tụ số học tăng khoảng 70 vị từ khắp các nơi về. Trong đó có Hòa Thượng Đạt Từ ở chùa Thiền Tôn (Thủ Đức) đến giúp và giữ chức Giám trường, Hòa Thượng Quảng Liên và Hòa Thượng Quảng Huệ cũng về hợp tác, thầy Minh Cảnh được xuất gia ở đây, Hòa Thượng đã tổ chức được một Đại giới đàn tại đây và Hòa Thượng Quảng Liên cũng như Hòa Thượng Bửu Huệ được thọ Đại Giới tại giới đàn này.
Đến năm 1950, Hòa Thượng có bệnh phải đi dưỡng bệnh ở chùa Linh Sơn, Cổ Tự (Vũng Tàu), nên giao toàn trường cho Hòa Thượng Thiện Hoa vừa ở Bắc về quản lý. Năm 1951, Hội chùa Linh Sơn thỉnh Hòa Thượng làm trụ trì và giao toàn quyền quản lý.
Năm 1952, Giáo Hội Tăng Già Nam Việt được thành lập ở Sài Gòn, Hòa Thượng được mời giữ chức Trưởng Ban Giáo Dục và Trưởng Ban Giám Luật. Kế đó, Giáo Hội Tăng Già toàn quốc được thành lập, Hòa Thượng được cử vào các chức vụ: Trưởng Ban Giáo Dục, Ủy viên Phiên Dịch Tam Tạng và Phó Trị Sự Trưởng, vì có nhiều trọng trách trong GIáo Hội nên tháng 04 năm 1954, Hòa Thượng trao quyền trụ trì chùa Linh Sơn lại cho Thượng Tọa Tịnh Viên, cho đến năm 1995 thì Thượng Tọa Tịnh Viên viên tịch.
Với hoài bão truyền đăng tục diệm, hoằng dương chánh pháp, kiến tạo Già Lam, Hòa Thượng được Phật tử cung thỉnh về ngôi chùa cổ kinh không người thừa kế trên một vùng đất hoang vu vắng vẻ ít người đi lại, tọa lạc tại ấp Bình Đức, xã Tâm Bình, quận Thủ Đức, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, TPHCM. Nơi đây, Hòa Thượng khai sơn tạo dựng Già Lam, lấy tên là Vạn Đức. Lần lần, do uy tín và đạo đức của Hòa Thượng, Tăng Ni quy tụ về cất chùa am chung quanh, biến nơi này thành một đạo tràng lớn mà hiện nay, nói đến đạo tràng Vạn Đức ai ai cũng đều biết.
Năm 1955, với chí nguyện hoằng dương tịnh Độ, hướng dẫn chúng sanh đời mạt pháp, Hòa Thượng thành lập Cực Lạc Liên Hữu, khuyến tấn người niệm Phật, cầu vãng sanh Tịnh Độ. Cực Lạc Liên Hữu được Hòa Thượng khai hóa đã khơi dậy phong trào tu tập, khuyến tấn hành giả tín hướng chỉ quy Tịnh Độ. Hòa Thượng là vị Tổ Sư đương thời chấn hưng Tịnh Tông trong tòa nhà Phật Giáo Việt Nam. Hòa Thượng rất quán triệt Thánh điển, tinh tường y dược Đông Phương, Tăng Ni, Phật tử Việt Nam thấm nhuần được kinh điển Đại Thừa phần lớn do công trình dịch thuật của Hòa Thượng... 

Hòa Thượng Thích Thiện Thông 
 
Hòa thượng Thích Thiện Thông
Hòa thượng thuộc dòng thiền Lâm Tế chánh tông đời thứ 41, pháp húy Nhật Chí, hiệu Thiện Thông, thế danh Hồ Tấn Phát, sinh năm Mậu Thìn (1927), tại làng Bình Thạnh Đông, huyện Lấp Vò, Long Xuyên, (nay Đồng Tháp). Thân phụ là cụ ông Hồ văn Nên (tự Nhiêu) pháp danh Hồng Thành, Hiền mẫu là cụ bà Lê Thị Kim pháp danh Diệu Ngọc, Ngài là con cả trong gia đình, có bảy người anh em (4 trai, 3 gái) song thân là Phật tử thuần thành kính tin Tam Bảo, gia đình trung lưu trí thức... 
http://tongiaovadantoc.com/c1046/20130409105356082/htthich-thien-thong-nha-su-dan-than-cuu-quoc.htm

Tổng hợp bài viết PT. Hoằng Thanh 


Cảnh giác với chiêu lừa khất thực ở miền Tây


GN - Khất thực là một trong những truyền thống tốt đẹp của Phật giáo, đặc biệt đối với hạnh tu biệt truyền của hệ phái Phật giáo Nam tông và Khất sĩ. Tuy nhiên, hiện nay hình thức khất thực dưới màu áo Tăng Ni đang bị nhiều kẻ lợi dụng để thu lợi bất chính và nở rộ ở các tỉnh miền Tây...
Mượn đạo tạo đời…
Việc lợi dụng hình thức tu sĩ để đi khất thực, hóa duyên đã không còn là vấn đề mới lạ, thế nhưng, gần đây sự việc lại xuất hiện trên địa bàn thành phố Long Xuyên và không ít người đã bị lừa gạt. Cách đây nửa tháng, trước khu vực chợ Mỹ Xuyên (TP. Long Xuyên) xuất hiện 2 vị “sư cô” mặc áo màu vàng, đi chân đất, tay cầm bình bát đứng khất thực. Chỉ có một điều lạ là 1 trong 2 vị vẫn còn để tóc một ít và xăm mí mắt.
Hai sư giả đang "khất thực: ở chợ Mỹ Xuyên
Cả 2 đứng một chỗ với vẻ mặt u buồn, sầu não nhằm gợi sự cảm thương của người dân qua lại. Đứng quan sát một hồi, phóng viên đã chứng kiến nhiều người ra vào chợ cúng dường bằng những thực phẩm hoặc bằng tiền. Thấy sự việc lạ, phóng viên đã chụp ảnh lại. Hai vị thấy mình bị phát hiện nên đã nhanh chóng lẩn trốn vào khu vực chợ nhưng khoảng một lát sau đã bị Công an phường Mỹ Xuyên mời về trụ sở làm việc.
Thấy không thể làm ăn tại TP. Long Xuyên, các đối tượng đã di dời địa bàn hoạt động đến thị trấn Phú Hòa (H.Thoại Sơn). Lần này, các vị đứng trước chợ chờ người dân đi ngang qua và miệng không ngớt nói câu “cúng dường Tam bảo”. Trong vai một Phật tử, phóng viên đã có dịp “thăm hỏi” một vị “sư cô” về pháp danh, nơi tu học. Cô nói cô tu ở một cái am trên điện Bồ Hong. Phóng viên nói không thấy cái am nào trên đó, sư cô đã trả lời “trên điện Bồ Hong lên nữa”.
Điện Bồ Hong đã là nơi cao nhất của núi Cấm, vậy rốt cuộc nơi sư cô tu hành thật bí ẩn(!)… Chính trong cách trả lời ấy đã bộc lộ sơ hở. Khi phát hiện bị phóng viên “sờ gáy”, sư cô tỏ vẻ hoang mang và nhanh chóng trả lời qua loa để lên xe máy di chuyển đến nơi khác.
Khi cởi bỏ chiếc áo nhà sư…
Chấp nhận cả ngày vất vả đi nhiều nơi để xin tiền của người dân, nhưng đêm đến, các “nhà sư” lại lộ nguyên hình là những kẻ lừa đảo. Thầy Thích Thiện Lợi, trụ trì chùa Khánh Hòa (thị trấn Phú Hòa) cho biết, trước đây có 4 cặp nam nữ sống như vợ chồng thuê phòng trọ tại khu vực bến xe Long Xuyên (P.Mỹ Quý), ban ngày giả làm nhà sư đi khất thực, đêm đến lại dùng tiền kiếm được tổ chức ăn nhậu thâu đêm.
Một hôm, do ăn chia tiền không đồng đều giữa các thành viên nên mới xảy ra đánh lộn, xô xát và sự việc mới bị vỡ lở. Còn Sư cô TN.Chơn Như, trụ trì chùa Vi Phước (Q.Thốt Nốt, TP.Cần Thơ) cũng cho hay, cô đã chứng kiến cảnh nhiều người ban ngày giả làm nhà sư, tối đến lại ăn nhậu phủ phê. Mỗi ngày các vị “khất thực” được bao nhiêu tiền của làm ra từ mồ hôi và nước mắt người dân mà đêm đến lại “nướng” tiền vào các cuộc vui như thế? Con số đó không ai biết!
Người dân chưa biết quy định của Giáo hội
Từ năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) đã khuyến khích các tu sĩ hạn chế việc đi khất thực và sống với phương châm “Một ngày không làm, một ngày không ăn”. Từ đó, Tăng Ni thường phải vừa tu hành, vừa phải lao động và làm Phật sự giúp đỡ những người chung quanh. Thế nhưng, “tệ nạn sư giả khất thực” vẫn tràn lan. Nhiều người dân lười lao động đã lợi dụng hình ảnh khất thực để trục lợi riêng cho bản thân.
Nhiều người dân còn chưa phân biệt được đây là sư giả
Chính vì vậy, năm 2007, GHPGVN đã ban hành thông tri quy định ngưng việc đi khất thực và những hình thức lợi dụng Phật giáo làm việc phi pháp. Giáo hội chỉ cho phép duy trì truyền thống khất thực của hệ phái Phật giáo Nam tông và Khất sĩ. Đến năm 2013, GHPGVN lại tiếp tục ban hành thêm một thông tri và kiên quyết đề nghị các ngành chức năng xử lý các đối tượng lừa đảo.
Theo đó, hệ phái Phật giáo Khất sĩ thống nhất không khất thực tại các chợ, bến xe, khu du lịch, lễ hội của tôn giáo bạn, các khu dân cư… Do vậy, những nhà sư đi khất thực tại những nơi đó đều là giả mạo. Các cấp Giáo hội Phật giáo huyện, thị xã, thành phố khi phát hiện các tu sĩ giả có nghĩa vụ phối hợp với chính quyền địa phương xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm.
Việc lợi dụng khất thực đã làm tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh đạo Phật, bôi nhọ thanh danh, đạo đức, lối sống của những vị tu hành chân chính. Nhằm giúp việc trang nghiêm lại Giáo hội, người dân không nên tiếp tay cho những kẻ lừa đảo, hãy dùng tiền của mình cúng dường tại những chùa, các cơ sở từ thiện xã hội dưới sự quản lý của GHPGVN. Có được như vậy thì việc cúng dường của người dân và các Phật tử mới có ý nghĩa và trọn đầy phước báo.                                                 
                                                                                                                                          An Nhiên

Thứ Năm, 25 tháng 4, 2013

Đến Vĩnh Long ghé thăm mái ấm Suối Nguồn Tình Thương & chiêm bái tôn tượng Quán Âm cao nhất hiện nay

Suối Nguồn Tình Thương thuộc chùa Phước Quang, thị trấn Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long do đại đức Thích Phước Ngọc làm trụ trì và cũng là Ủy viên Ban Hoằng pháp T.Ư. 
Nơi đây đã cưu mang cho hơn 200 trẻ em lang thang, cơ nhở, bất hạnh không chốn nương thân. Cũng với tâm nguyện bồ tát ấy thầy đã cho xây dựng tôn tượng Quan Âm Thị Kính cao 18m, bục đài sen cao 7m được khánh thành năm 2012 cùng thời điểm với các hạng mục của Trung tâm Cô nhi viện Phật giáo Suối Nguồn Tình Thương. Vì ngài bồ tát Quán Thế Âm luôn quán sát ra tay giúp đỡ khi tiếng kêu cứu của chúng sanh được cất lên.
Tôn tượng Quán Âm Thị Kính tay bồng đứa trẻ
Tôn tượng được thiết kế liên hoàn gồm nhiều hạng mục nằm trong lòng tôn tượng này, bên ngoài thiết kế cầu thang vòng xoắn ốc dẫn lên vai tượng.
Đứng trên Quan Âm các, mọi người có thể quan sát tổng thể quan cảnh Trung tâm Cô nhi viện Phật giáo Suối Nguồn Tình Thương, ngắm cảnh quan rộng lớn xung quanh: hai chiếc cầu dây văng lớn nhất nhì Đông Nam Á (cầu Cần Thơ và cầu Mỹ Thuận), khu nghĩa trang liệt sĩ của huyện Tam Bình…
Đứng dưới đài sen mà sao thấy quá nhỏ nhoi trước tôn tượng
PT. Hoằng Thanh 

Đại lão hòa thượng Thích Từ Nhơn viên tịch

GNO - Văn phòng II T.Ư GHPGVN vừa cho biết, Đại lão HT.Thích Từ Nhơn, thành viên HĐCM GHPGVN,  Phó chủ tịch Thường trực HĐTS,  Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tăng sự Trung ương GHPGVN, nguyên Phó BTS kiêm Trưởng ban Tăng sự THPG TP.HCM, trụ trì Việt Nam Quốc Tự (TP.HCM), viện chủ chùa Phước Thạnh (tỉnh Đồng Tháp), Ủy viên UB T.Ư MTTQVN đã viên tịch lúc 7giờ sáng nay, 25-4-2013 (nhằm ngày 16 tháng 3 năm Quý Tỵ), tại Việt Nam Quốc Tự (số 244 đường 3 tháng 2, P.12, Q.10, TP.HCM).
Chân dung Đại lão HT.Thích Từ Nhơn - Ảnh: Lương Hòa
Đại lão Hòa thượng Thích Từ Nhơn trụ thế: 88 năm, Hạ lạp: 68 năm.

Được biết, lễ nhập kim quan chính thức cử hành vào 20 giờ tối nay, 25-4-2013 (nhằm ngày 16 tháng 3 năm Quý Tỵ). Kim quan được tôn trí tại Văn phòng II T.Ư GHPGVN - thiền viện Quảng Đức, số 294 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, P.8, Q.3, TP.HCM.


Lễ viếng bắt đầu từ 7giờ ngày 26 đến hết ngày 28-4-2013 (nhằm ngày 17 đến hết ngày 19 tháng 3 năm Quý Tỵ). 


Lễ tưởng niệm được cử hành lúc 7giờ ngày 29-4-2013 (ngày 20 tháng 3 năm Quý Tỵ), sau đó phụng tống kim quan Đại lão Hòa thượng trà-tỳ tại Đài hỏa táng Bình Hưng Hòa, xá-lợi được nhập tháp trong khuôn viên Việt Nam Quốc Tự.
Nguồn GNO

Thứ Tư, 24 tháng 4, 2013

Xá lợi ?


Người lưu xá lợi chưa hẳn đã đắc đạo
Nhưng người đắc đạo không thể không có xá lợi
Xá lợi thân mẫu TT. Giác Hóa - Sa Đéc
Xá lợi là gì? Xá Lợi (sarira) là tiếng cổ Ấn Độ. Người Hoa dịch là linh cốt (xương linh). Là thành phần còn lại của xác thân sau khi đã thiêu cháy hết tất cả thịt xương. Sở dĩ gọi là linh cốt là vì những hạt xá lợi sau khi thiêu xong không bị tiêu hủy mà còn óng ánh như những hạt ngọc trai hoặc cẩm thạch vỡ nhỏ.
Xá lợi kết tinh từ sự tu hành theo giáo lý nhà Phật
Xá lợi rất nhiều màu sắc sặc sỡ. Phần xá lợi đó khoa học cho là sự kết tinh huyền bí và không phải ai dễ dàng có được sau khi hỏa thiêu. Muốn đạt được như thế ta chỉ có cách thực hành theo lời dạy của đức Phật, phải sống trên tinh thần từ bi, vô ngã. Tâm thanh tịnh không còn ràng buộc bất cứ điều gì trên thế gian ngoài việc nhớ Phật, giữ gìn giới luật, công phu hành trì, nhất niệm hướng về cõi Phật. Nếu chúng ta cứ chạy theo dòng đời rồi trầm luân trong khổ cảnh, chúng ta có thể chịu được hay không? Hay kêu gào than khóc?  Khi đến với cuộc đời này ta chẳng mang gì theo, khi nhắm mắt ra đi chúng ta cũng chẳng mang theo cái gì ngoại trừ một thứ gọi là nghiệp. Đạo lý này ai ai cũng biết nhưng không làm sao tu tập nổi bởi sức hút của vật chất thế gian quá mạnh được kéo theo bởi sân si và lòng ham muốn. Chao ôi! Chỉ có cái khổ đau trần thế vô cùng nghiệt ngã mới đánh thức ta nổi, còn cái hưởng thụ lối sống trong nhung lụa xa hoa một đời chỉ là cơnthôi. Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy đó chính là cái bẫy của loài Ma trói buộc con người trong sanh tử luân hồi cùng tận không ngày ra. Vì thế khi chúng ta nhìn thấy xá lợi và thực hành theo để mong muốn đạt được phần nào, vô tình chúng ta đã giải thoát khổ đau, nhờ vào việc giữ giới, không tham đắm, luyến ái, phá tan mọi ràng buộc, nhất tâm quy về một hướng, ý không sanh thì ý sẽ không diệt...
 
Xá lợi trái tim 

Và tùy theo hạnh nguyện mỗi người mà xá lợi có thể khác nhau, mà dù gì đi nữa đó chỉ là minh chứng cho sự tu hành, cuối cùng niết bàn mới là đích đến.
PT. Hoằng Thanh


Thứ Ba, 23 tháng 4, 2013

Ngày càng đông các bạn trẻ hưởng ứng việc phóng sanh


Các bạn nhỏ tập trung ngay hồ phóng sanh Đại Tòng Lâm 
Lý do chính đáng nhất cho việc phóng sanh đó là một chữ “Tù”. Ở trên thế gian này có mấy ai mà lại thích người ta bắt mình giam cầm, tra tấn, đánh đập,…hay không? Vì thế ai ai cũng muốn tự do, thoải mái chạy nhảy, đây mới chính là niềm hạnh phúc nhất. Nhưng mấy ai được như ý, trong cuộc sống luôn phải bận rộn, bị mất tự do bởi gia đình, tài sản, địa vị,...nên cứ hoài khổ đau, tù túng. Nguyên nhân chính do cái gì? Theo chúng tôi cảm nhận con vật cũng thế, luôn bị giam cầm đánh đập bởi con người, có khi còn bị con người nhốt vào bao tử. Mà con vật nào có tội chi, cũng là một cơ thể vật lý, chỉ khác chúng ta về hình dáng, nhưng cái chung đều biết cảm giác buồn vui ghét thương, cái chung nhiều nhất chúng cũng có gia đình cha, mẹ, anh, em, mà sao ta nỡ nào cướp đi tự do của chúng. Còn theo môi trường thì ngày càng ô nhiễm bởi giết mổ, sát sanh, làm dơ bẩn bao nhiêu nguồn nước, diện tích giam giữ. Và ngày nay nhất là giới trẻ luôn cập nhật thông tin nhanh nhất, được giao tiếp xã hội rộng nhất, quan trọng luôn nhìn thấy thực tế nhất, cũng vì để bảo vệ cho ta và người khác, nếu con vật nhỏ mình dám giết thì con lớn sẽ cũng giết, có khi giết con người, nên các bạn ngày càng rủ nhau phóng sanh…Điều trước tiên để trả lại tự do cho muôn loài, lòng từ bi tăng trưởng muốn tất cả luôn thoải mái không sống trong ngục tù, tìm lại khoảng không gian thiên nhiên tươi đẹp, cho cá về với sông, cho chim về với bầu trời trong xanh…Điều thứ hai môi trường trong lành làn nước trong veo, ô nhiễm xa lìa, không còn những nơi khan hiếm nước. Điều thứ ba gia đình hòa hợp, chia lìa không thấy, cũng như mỗi hoàn cảnh con người êm ấm hạnh phúc cho mãi mãi. Từ ý thức đó mà ngày nay giới trẻ, tuổi còn sung sức không bỏ qua cơ hội khi cùng nhau thích phóng sanh, đi khắp nơi nơi, dù nông thôn hay thành thị. Ngoài ra còn tạo điều kiện cho các bạn sinh hoạt trong môi trường lành mạnh, không thịt thà chè rượu, làm lợi ích nước nhà, cũng như tại gia, sống trong hòa bình, tù tội tan biến.  
PT. Hoằng Thanh 

Tiếng chuông thức tỉnh bao tâm hồn



Đại Hồng Chung
Đêm khuya nghe tiếng chuông chùa
Ngân vang thức tỉnh bao hồn còn mê
Từ lâu tiếng chuông chùa trở thành truyền thống văn hóa của người dân ta, mỗi khi trong đêm khuya tĩnh mịch tiếng chuông vang vọng như làm thức tỉnh bao tâm hồn. Vì đâu tiếng chuông xuất hiện mà ta được nghe mỗi đêm, đó bắt đầu từ sự độc ác, không tin chánh pháp của hoàng hậu Hy Thị vào thời vua Lương Võ Đế. Lúc bấy giờ vị vua ấy rất kính Phật pháp, nên việc cúng dường trai tăng là đều tất nhiên, nhưng không may hoàng hậu Hy Thị đã cho làm bánh bao nhân thịt chó để cúng dường. Từ chuyện ấy sau một thời gian bà ta qua đời, hóa thành con mãng xà, mình mẩy hôi tanh, đau đớn vô cùng. Nên đêm đêm thường báo mộng cho vua Lương Võ Đế biết, vì tình nghĩa, vì kính tin tam bảo, vì lòng từ bi, vua quyết định thỉnh mời chư tăng kết tập quyển Lương Hoàng Sám Pháp và cho đúc chiếc đại hồng chung, với ý nguyện hồi hướng, sám hối bao tội lỗi mà hoàng hậu đã gây ra. Thế là chiếc chuông đầu tiên xuất hiện, mỗi khi nghe tiếng boong ngân dài rồi lại boong, âm ngân vang từ từ đến khi tắt hẳn, ôi sao ta có cảm giác thả hồn lơ lửng hòa quyện vào tiếng chuông. Ngược lại những âm thanh tiếng chuông khác khi ta nghe beeng boong beeng boong âm thanh hỗn tạp, chua chát, làm xáo động sự tĩnh lặng đang có trong ta. Chúng tôi nhớ lại lúc ấy khi chúng tôi thường đến thăm thầy ở chùa, vào những lúc thầy chuẩn bị đánh chuông trên bảo tháp, đợi sau khi thầy thỉnh chuông xong, chúng tôi xin thầy ơi cho con đánh với, thế là một đêm làm kẻ đánh chuông. Rồi những khi về tỉnh lẻ xa xôi, được ngủ ở chùa, nằm bên gần chiếc chuông, đúng giờ quý thầy quý cô công phu, nên chúng tôi tỉnh giấc, không còn ngáy ngủ như ở nhà. Lúc ấy mắt lờ đờ, âm chuông vang vọng, cái giấc ngủ lúc nào biến mất không hay, trả lại sự tỉnh thức nghe mà sao êm ả du dương đến lạ kì. Tiếng chuông ấy không phải chỉ riêng cõi người chúng ta mới được thưởng thức, mà ngay cả những cõi vô hình khác, mỗi khi nghe cũng chuyển hóa, cũng an lòng trong giây phút đó. Lẽ vì điều ấy mà tiếng chuông không thể nào thiếu trong mỗi ngôi chùa cũng như trong mỗi thôn làng, và trong văn, thơ,...bao nhiêu tác phẩm giá trị luôn đề cập liên quan đến tiếng chuông. Lại nữa mỗi tuổi thơ ai đã trải qua thì sẽ không bao giờ quên cái câu của nhà thơ Dương Khuê:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương
...
Tiếng chuông thức tỉnh bao tâm hồn, cho ta tìm về lại sự an lạc, sự yên bình êm ả nơi có những mái chùa, những người con đang đi theo bước đường giải thoát của Phật đà. 
PT. Hoằng Thanh 

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

Tai sao tai họa đến với ta nhiều thế?



Chỉ một ngọn lửa thiêu rụi cả tài sản
Phước không đến với ai nhiều lần, mà tai họa thì không bao giờ đến một lần.
Trong cuộc đời mỗi con người, kể cả những loài vật cũng thế, chúng ta luôn thấy toàn gặp những chuyện không may mắn, bất an, còn chuyện vui thì có bao giờ dài lâu. Tại sao lại có chuyện xấu thì nhiều mà tốt thì ít? Chúng ta nhìn lại sự thật, xoay quanh bạn bè, người thân, hay chúng ta, thường xuyên gặp xui hơn là hên. Gần đây nhất thôi chúng tôi có một người bạn, ngay thời điểm chuẩn bị đón xuân mà lại phải nằm ở nhà, chỉ vì bao nhiều điều ập đến, nào là tai nạn xe, mất tiền, bị giựt đồ,...Đây là một trong số những trường hợp chúng tôi chưa kể hết, còn báo đài thì vô số thông tin rùng rợn. Và đây những điều xui xẻo hay may mắn có chăng là số phận, định mệnh không thể nào biến chuyển? Theo chúng tôi là không, ta có thể thay đổi hết vì không biết cách mà thôi. Điều thứ nhất ai cũng đều có phước, quan trọng nhất có phước được làm người, vì có phước nên ta mặc sức xài cho thoải mái, cứ nghĩ là của trời đã cho sẵn, nên không cần suy nghĩ, ta có ta xài. Mà cái gì đã xài thì phải cạn dần, quên đi tạo thêm để bù đắp, có khi ta xài gấp đôi, tạo thì quá ít, lúc đó cái xấu đến phước không đủ đảm bảo bảo vệ cho ta. Điều thứ hai thì ngược lại một khi phước mất hết thì khổ đau có mặt, tai nạn, chia ly, bệnh tật,...liên tục xảy ra theo nhân quả mà ta đã sử dụng phước bừa bãi, không đúng mục đích. Nói đi nói lại chúng tôi cũng chỉ mong ai đó khi biết được xấu tốt, giàu nghèo, khỏe bệnh, hên xui,...đều do ta không biết tạo phước, mà xài phước lãng phí. Do đó trên cuộc đời ai ai cũng phải biết tạo phước cho riêng mình, dù là một việc nhỏ nhoi, có khi thăm hỏi, chia buồn, chia vui, an ủi, động viên,...tạo thành phước cho ta, ẩn sau đó tạo thành xã hội tốt đẹp mà ta không hay biết.
PT. Hoằng Thanh