.jpg) |
| Hòa Thượng Thích Từ Nhơn |
Hòa thượng Thích Từ Nhơn, thế danh Nguyễn Văn Sáu, sinh năm Bính Dần
(1926) tại Sa Đéc, nay là tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn
Diệu, pháp danh Thiện Đạo húy Hồng Diệu. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị
Tuất, pháp danh Diệu Minh.
Vốn sinh ra trong gia đình thượng lưu trí thức, Phật tử thuần thành,
nhiều đời tin kính Tam bảo, nên khi còn nhỏ, Hòa thượng đã có cơ duyên ở
trong chùa đi học. Ngài được thân sinh là Hòa thượng Hồng Diệu hiệu
Thiện Đạo Trụ trì Phước Thạnh Cổ Tự đưa về Tổ đình Phi Lai xuất gia với
Sư bá Hồng Pháp hiệu Thiện Minh (chú ruột), Trưởng tử Tổ Phi Lai, được
Hòa thượng ban pháp húy Nhựt Sáu, hiệu Từ Nhơn, nối pháp dòng Lâm Tế
Gia Phổ đời thứ 41.
Năm 1936, Hòa thượng được Bổn sư cho thọ giới Sa di tại Giới đàn chùa
Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Lợi, huyện Thạnh Hòa, tỉnh Bạc Liêu do Hòa thượng Huệ
Viên tổ chức và cung thỉnh Tổ Vạn An (Hòa thượng Thích Chánh Thành)
đương vi Chứng minh, Hòa thượng Bửu Chung chùa Phước Long đương vi Pháp
sư, Hòa thượng Chánh Quả chùa Kim Huê đương vi Bố tát.
Từ năm 1944 – 1946, Hòa thượng theo học lớp Phật học tại chùa Long
An, Sa Đéc, do Quý Hòa thượng Thích Khánh Phước, Thới An, Hành Trụ,
Thiện Tường… chủ giảng.
Năm 1945, để viên mãn Tam đàn giới pháp, Hòa thượng đã đăng đàn thọ
Đại giới Tỳ Kheo Bồ tát tại Tổ đình Vạn An, rạch Cái Xếp, nay thuộc xã
An Nhơn, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, do đại lão Hòa Thượng Luật
sư Thích Chánh Quả, Trụ trì Kim Huê cổ Tự làm Đàn đầu Hòa Thượng.
Sau khi trở thành Pháp khí trong ngôi Tam bảo, để mở mang kiến thức
Phật học, Hòa thượng đã tiếp tục theo học Kinh luật luận với các Trưởng
lão Hòa thượng tại Trường Gia giáo Phi Lai - Châu Đốc, Tổ đình Thiên
Thai – Bà Rịa, Lưỡng Xuyên Phật học – Trà Vinh, Tổ đình Vạn An, Tổ đình
Kim huê, Long An Cổ tự - Sa Đéc v.v…
Cố Hòa Thượng Thích Viên Hảo
 |
| cố Hòa Thượng Thích Viên Hảo |
Hoà thượng Thích Viên Hảo tên thật là Tô Thế Bình, sinh năm 1932 quê ở
thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Từ nhỏ, cậu bé Bình sống với ông nội cho
đến năm 11 tuổi. Quê hương ông có dòng sông Sa Đéc nối từ nhánh sông
Tiền chảy qua xóm chợ rất đẹp và thơ mộng.Đó cũng là nơi lưu dấu mối tình đầu rất đẹp của công tử Huỳnh Thủy Lê
đất Sa Đéc với nữ văn sĩ Pháp Marguerite Duras, mà sau này được thể hiện
thành tiểu thuyết và phim ảnh “Người tình” dịch ra vài chục thứ tiếng.
Quê hương của Hòa thượng còn là vương quốc cây hoa kiểng với làng hoa
Tân Quy Đông nổi tiếng thiên hạ từ xa xưa. Mỗi năm đến mùa Tết, hoa từ
làng xuống ghe xuồng, lên xe tải để đi khắp nơi phục vụ mọi người đón
xuân. Đây cũng là quê hương của nhà bác học, kỹ sư Lưu Văn Lang.
Tu hành là do căn duyên, không phải ai trên đời xuất gia cũng thành hòa
thượng. Mọi thứ không phải con người chọn lựa, mà do bổn tánh từng người
thích hợp hay không thích hợp với căn tu. Vì thế mà nhà Phật khuyên con
người, trước hãy lo tu tâm, sau mới nghĩ đến tu Phật. Có lời khuyên
vàng ngọc rằng: “Buông hạ đồ đao, lập địa thành Phật”. Bất luận làm nghề
gì, việc gì, chỉ cần có tâm thiện, hướng Phật là có Phật trong tâm.
Nhắc lại chuyện, nếu không có sự kiện ông nội của Bình mất, chưa chắc Tô
Thế Bình đã theo cửa Phật sau này, cũng như việc tham gia vào tổ chức
biệt động thành. Sau khi ông nội Bình qua đời, gia đình mai tang rồi
gửi bài vị lên chùa thờ cúng để ông hưởng phần nhang khói quanh năm và
sớm chiều nghe chuông mõ công phu đặng siêu thoát. Hàng ngày, cậu Bình
lên chùa thắp nhang cho ông, nghe kinh kệ và quen dần với chuông mõ công
phu.
Dường như căn tu đã có nghiệp duyên
cho đời cậu, nên Bình rất say mê cảnh chùa, việc chùa, không màng đến
cõi phàm như đám bạn nhỏ suốt ngày kéo nhau hái trái trong vườn, bắt ốc
mò cua, bắt chuột, bắt cá và nhảy tắm sông. Rồi một thời gian sau, cậu
Bình xin gia đình xuất gia đi tu theo cõi Phật.
Năm 21 tuổi, Bình được các sư thầy cho theo học kinh Phật ở chùa An
Quang, Sài Gòn. Đúng 9 năm sau, vào lúc 30 tuổi, nhà sư Thích Viên Hảo
(pháp danh của Tô Thế Bình) làm trụ trì tại một ngôi chùa nhỏ có tên là
chùa Tam Bảo ở đường Dương Công Trường, Quận 10, TP. HCM ngày nay. Nhớ
lại chuyện cũ của 27 nhà sư thành Nam Định đất Bắc năm xưa :
“Nghe theo tiếng gọi của núi sông
Cà sa gửi lại chốn thư phòng”
Chùa Tam Bảo nằm trong hẻm nhỏ, mới xây dựng nên ít người để ý tới. Hơn
nữa, không một ai biết rằng, nhà sư trẻ pháp danh Thích Viên Hảo là một
chiến sĩ biệt động. Trong lớp áo cà sa của nhà sư là một tinh thần cách
mạng sôi sục, tiến công, đánh thẳng vào sào huyệt kẻ thù ngay giữa trung
tâm thành phố Sài Gòn. Hàng ngày, sư Thích Viên Hảo đi đó đây làm phật
sự, gặp các phật tử, cốt yếu là để dò la tình hình quân địch, nắm thông
tin tình báo.
Cũng từ ngôi chùa Tam Bảo này, nhà sư Thích Viên Hảo đã trở thành một
chiến sĩ biệt động thành thuộc Phân khu 6. Đơn vị này do đồng chí Nguyễn
Văn Tăng làm Chỉ huy trưởng và đồng chí Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu) làm
Chỉ huy phó. Chùa Tam Bảo đã trở thành nơi đi về, hội họp bí mật của đội
biệt động trong một thời gian dài.
Tranh thủ thời gian rảnh rỗi, nhà sư Thích Viên Hảo đào hầm để anh em có
nơi trú ẩn và chứa vũ khí. Nhiều đêm, nhà sư thức trắng một mình cặm
cụi đào hầm phía sau tượng Phật nơi chánh điện, rồi khuân từng thúng
đất đổ nền, xóa lấp dấu vết, để có một căn hầm rộng rãi, không ngột ngạt
cho anh em biệt động trú ẩn an toàn, bí mật và lâu dài khi bị địch truy
đuổi.
Nhà sư như một Ngưu Công đào núi, một Dã Tràng se cát để có căn hầm bí
mật cho anh em biệt động Sài Gòn. Nhà sư Thích Viên Hảo còn có hai người
em trai là Tô Chi Lư và Tô Ngọc Sử chí thú làm ăn, chưa tham gia cách
mạng. Những việc làm của nhà sư đã thuyết phục và dần dà lôi kéo hai
người em trai gia nhập tổ chức biệt động Sài Gòn trong vỏ bọc viên chức,
giáo viên.
Có lần, trong cuộc gặp mặt các tử tù, tù chính trị do thành phố tổ chức
tại nhà thi đấu Phú Thọ, Quận 10, Hoà thượng Thích Viên Hảo, chiến sĩ
biệt động Sài Gòn-Gia Định, bồi hồi nhớ lại chuyện cũ với lời kể trầm ấm
như đang thuyết pháp: “Nhà chùa khi ấy mới chỉ có hai dãy nhà chạy xuôi
tạm bợ và gian chính để thờ Phật đang trong giai đoạn xây dựng. Lợi
dụng vận chuyển vật liệu, xe cộ ra vào thường xuyên, tôi đào hầm trong
chùa để giấu cán bộ và chứa vũ khí, đạn dược. Sau này tôi còn mở rộng
hầm để hội họp, có thể tạm lánh lâu dài”.
Với bề ngoài là nhà tu hành nên nhà sư Thích Viên Hảo khá thuận tiện
trong việc thu thập tin tức, giao tiếp với các cơ sở bí mật của đội biệt
động thành. Hoà thượng được tổ chức giao nhiệm vụ chính là đảm bảo cơ
sở an toàn, hướng dẫn đường đi, vẽ sơ đồ, trinh sát các địa điểm mà
người thường rất khó tiếp cận.
Một buổi sáng trước năm Mậu Thân 1968, trong dòng người đông đúc theo
các ngả đường hướng về nội đô, người ta thấy có bóng dáng một nhà sư với
chiếc áo nâu sòng đi hành đạo. Khuôn mặt rất từ bi, điềm tĩnh, nhà sư
chắp tay vái chào cảnh sát, mật thám với câu: “A di đà Phật!”.
Địch dù kiểm tra gắt gao đến mấy vẫn không ngờ được rằng chính nhà sư
đó lại là một chiến sĩ biệt động thành đang vận chuyển vũ khí, đạn dược
về cho cơ sở nội thành để tập kết, chuẩn bị cho cuộc tấn công và nổi dậy
vào Tết Mậu Thân. Đã có rất nhiều lần, nhà sư Thích Viên Hảo dùng xe
gắn máy đi Củ Chi chở chất nổ, súng K54, thậm chí cả súng cối 81 ly về
nơi tập kết an toàn bằng cách ngụy trang khéo léo như nhà chùa đang chở
các vật dụng cúng bái.
Hoà thượng Thích Viên Hảo từng kể lại : “Năm 1968, lúc này chủ trương
của ta cần nhiều thuốc nổ để gây nhiều tiếng nổ trong nội thành Sài Gòn
làm rối loạn, hoang mang quân địch nhưng địch kiểm soát, lục lọi rất gắt
gao các ngả đường vào thành phố, đặc biệt là hướng Củ Chi, Hóc Môn.
Tình thế rất cấp bách, khẩn trương, bằng mọi cách phải vận chuyển thuốc
nỗ, súng đạn về nơi tập kết. Thấy vậy, tôi xung phong đi Củ Chi vận
chuyển đạn dược, thuốc nổ… về nội thành.
Để vận chuyển an toàn súng cối 81 ly, tôi phải dùng xe ba gác chở những
ống cống xi măng và giấu súng cối vào trong đó. Gặp lính kiểm soát tôi
nói vận chuyển về xây dựng chùa. Thế là chúng cho qua. Cứ như vậy, tôi
đã vận chuyển thuốc nổ, súng đạn vào nội thành và chuyển đi khắp nơi rất
an toàn”.
Ban ngày, Hoà thượng đi thực địa, vận chuyển vũ khí, còn tối lại vẽ sơ
đồ các trận đánh cho đơn vị. Chùa Tam Bảo đã trở thành nơi xuất phát của
các chiến sĩ biệt động thành Sài Gòn - Gia Định khiến địch khiếp vía,
mất ăn mất ngủ. Chiến sĩ biệt động Tô Thế Bình đã cùng đồng đội đánh
hàng chục trận như: cầu treo bến xe Sài Gòn, trạm điện ở Trường đua Phú
Thọ, cabin điện Chợ Thiếc, đánh mìn Nhà Quốc Hội khu vực bến Chương
Dương…
Những trận đánh vang dội của biệt động Sài Gòn với súng đạn, thuốc nổ
khối lượng lớn giữa nội đô đã khiến cho CIA và cơ quan Đặc phủ Tình báo
Trung ương Sài Gòn điên tiết, gắt gao truy tìm khắp nơi. Chúng tăng
cường mạng lưới tay sai, “chó săn” sục sạo. Vào cuối năm 1968, khi chuẩn
bị cho chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân, Hoà thượng
Thích Viên Hảo đã bị kẻ phản bội chỉ điểm và sa vào tay địch...
Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
 |
| Đại lão hòa thượng Thích Trí Tịnh |
Hòa thượng Thích Trí Tịnh thế danh là Nguyễn Văn
Bình, sanh ngày 17 tháng 10 năm 1917 (ngày 02 tháng 09 năm Đinh Tỵ), tại xã Mỹ An Hưng (Cái
Tàu Thượng), huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp).Là con út trong gia đình
có sáu anh chị em. Thân phụ Ngài là ông Nguyễn Văn Cân, một nông dân chơn chất.
Cụ ông qua đời lúc Hòa thượng mới lên ba tuổi. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Truyện,
mất lúc Hòa thượng vừa được bảy tuổi. Vì mồ côi cả cha lẫn mẹ quá sớm, nên Hòa
thượng ở với người anh thứ ba là ông Nguyễn Văn Đặng (nay đã qua đời). Hòa
thượng có ba chị gái: thứ hai, thứ năm và thứ sáu. Người thứ tư thì mất sớm.
Đến năm 10 tuổi, Hòa thượng mới vào học lớp năm (thời đó, lớp
năm là lớp thấp nhất). Hòa thượng rất thông minh, vừa học vừa dạy lại các cháu.
Ban đêm còn đọc truyện Tàu cho mọi người nghe. Đúng 15 tuổi, Hòa thượng học đến
lớp đệ thất, rồi sang học chữ Nho với người chú và học thuốc Bắc với người anh
họ.
Hòa thượng thấy cảnh lục đục của gia đình anh chị nên có ý
xuất ly thế tục. Từ đây, Hòa thượng bắt đầu tìm hiểu đến các tôn giáo như Thiên
Chúa, Cao Đài, Thông Thiên Học v.v... và đặc biệt quan tâm đến Phật giáo, vì chủ
thuyết của các tôn giáo kia có nhiều điểm Hòa thượng không thỏa mãn được. Từ đó,
Hòa thượng âm thầm tập niệm Phật, trì chú, và quán từ bi. Ngài đến các chùa, đa
số thấy quý thầy chú trọng về việc làm đồ mã, cúng bái, đi đám. Trên bàn thờ thì
tối om, thờ nhiều tượng, tượng nào cũng đội khăn đỏ trông phát sợ nên không có
cảm tình lắm. Hòa thượng cho rằng, các vị cao Tăng có lẽ ẩn dật nơi non cao núi
thẳm, nên có ý hoài vọng các chùa trên núi.
Năm 18 tuổi, Hòa thượng bắt đầu ăn chay trường. Ứng theo điềm
chiêm bao, Hòa thượng thấy có một ông già bảo rằng: "Con có căn tu, phải cần tìm
thầy học đạo thì sẽ được như trong sách ước", ông già còn bảo thêm: "Chừng nào
cọp chết, rắn mới về non" (Hòa thượng tuổi Tỵ).
Năm 1937, lúc Hòa thượng 21 tuổi, cùng người bạn lên Sài Gòn
lập nghiệp, ở chung nhà trọ. Nhà ấy có một người đi chơi ở Tây Ninh về mua được
một con cọp con, đem về nuôi được chín, mười ngày thì nó chết. Ứng điềm chiêm
bao, Hòa thượng liền thu xếp tìm đường xuất gia. Trước đó, tuy đã có ý định xuất
thế cho sớm nhưng còn người chị thứ sáu chưa lập gia đình nên không nỡ bỏ đi.
Nay bà chị đã yên bề gia thất, Hòa thượng yên tâm ra đi, để lại cho các anh chị
mỗi người một lá thư và một tấm hình.
Hòa thượng đi thẳng lên núi Cấm, vì trước đã nghe có nhiều vị
chân tu trên núi ấy. Vừa đến chân núi, vì quá vui mừng nên quăng cả giày dép.
Hòa thượng nhảy từ tảng đá này qua tảng đá khác và nguyện ghé lại ngôi chùa nào
trước thì sẽ xuất gia ở đó, dù chưa biết chùa đó tên gì, trụ trì là ai. Và rồi
nhân duyên đưa Ngài đến ngôi chùa Vạn Linh, là một ngôi chùa ở xa và cao nhất.
Hòa thượng vào chùa xin xuất gia. Lúc đó, Hòa thượng trụ trì không ở trong chùa
mà ở thất riêng ngoài bìa rừng, chỉ khi nào có việc thì sau giờ Tịnh độ mời vào
dạy bảo Tăng chúng ít lời. Hôm ấy là tối 14 tháng 02 năm Đinh Sửu, ngày Sám hối
giữa tháng. Sau giờ Sám hối, chúng ra thưa, Hòa thượng trụ trì vào, Hòa thượng
trụ trì nhìn sững Hòa Thượng hồi lâu rồi mới nói rồi mới nói với đại chúng: "Bay
đừng khinh thường thằng này. Đời trước nó đã làm Hòa thượng, đời nay nó cũng làm
Hòa thượng, nhưng vì có tội hay nhìn con gái nên đời này bị bệnh mắt suốt đời.
Thế là hôm sau, Hòa Thượng được thế phát vào ngày vía Phật nhập Niệt bàn.
Sau khi xuất gia, Hòa thương lãnh việc viết sớ điệp. Hòa
Thượng trụ trì cho Ngài ở cái thất nhỏ trong vườn chùa. Ngoài các việc và thời
khóa trong chùa, Hòa Thượng còn ra thất tụng kinh và làm bổn phận hết sức cần
mẫn. Ngài hành khổ hạnh như nhịn ăn, ít ngủ, đến đổi Hòa Thượng trụ trì phải
cảnh cáo. Có lúc đang ăn, vì quá để tâm đến sự tu nên rơi chén lúc nào mà không
hay.
Nhận được tạp chí Từ Bi Âm, Hòa Thượng phát khởi ý nguyện học
rộng Phật Pháp. Cuối năm 1939, Hòa Thượng xin phép Hòa Thượng trụ trì xuống núi
về Sài Gòn để tìm học kinh luật.
Về đến Sài Gòn, Hòa Thượng cùng thầy Thiện Phước ra núi Thị
Vải tìm chỗ thích hợp để cất thất. Sau cùng, tìm được một điểm tương đối tốt gần
chùa Tổ (nay là Linh Sơn Bửu Thiền). Trong chùa có cho mượn dụng cụ đốn cây và
dẫn nước về. Thời gian đó chưa có ai ở nhiều, nên sơn lam chướng khí rất nặng.
Vì thế, chẳng mấy hôm, Hòa Thượng và thầy Thiện Phước đều bị bệnh sốt rét, lên
cữ từng cơn. Thấy không kham nổi nên hai người đồng xuống chân núi. Thầy Thiện
Phước thì tá túc nơi am của bà Năm, Hòa Thượng thì tá túc nơi hang đá của bà Bảy.
Vài hôm sau, thầy Thiện Phước tịch. Hòa Thượng bèn về
Sài Gòn tá túc ở chùa Tịnh
Độ, Gò Vấp. Chùa này do ông Tư Lành làm xếp ga xây dựng lên. Nhà ông ở phía
trước, chùa xây phía sau có thỉnh quí thầy để trụ trì. Hòa Thượng đến bệnh viện
Sài Gòn để điều trị nhưng cũng chẳng thuyên giảm. Thấy vậy, Ngài tự nguyện với
lòng: “Có chết như huynh Thiện Phước cũng chẳng sao”. Thế nên, không quan tâm
đến việc trị bệnh nữa mà phát tâm tả kinh Pháp Hoa. Có một Phật tử biét tâm
nguyện của Hòa Thượng, giúp tìm mua giấy mực. Đến ngày 14 tháng 10 là tả xong.
Đúng hôm ấy, trong khi gởi để đóng lại thành quyển, chưa đem về thì có ông Mười
là bổn đạo trong chùa đến nói với Hòa Thượng: “Tôi biết có ông thầy kia trị bệnh
sốt rét hay lắm, để tôi đưa huynh đến đó xem sao!”.
Ông bèn lấy xe đạp chở Hòa Thượng đến đó. Ông thầy thuốc
không có nhà riêng, ở đậu nhà người ta mà làm thuốc. Sau khi hỏi bệnh trạng và
giờ lên cữ, ông nói bệnh nặng lắm vì lên cữ khuya. Ông vào nhà sau, một lúc đem
ra cục thuốc để trên miếng giấy, quan sát thì Hòa Thượng biết có ớt và tỏi đâm
chung. Ông bảo trước khi lên cữ nửa tiếng, lấy tay mặt với ra sau lưng, từ trên
cổ lần xuống hết ngón tay giữa chấm chỗ nào thì đó là huyệt cao quan, lấy cục
thuốc ịn vào đó (cục thuốc được để trên miếng giấy mỏng chừng 3 ngón tay), rồi
cứ ngồi ngay ngắn chờ. Hòa Thượng về làm y như vậy. Nửa tiếng sau khi ịn cục
thuốc, cơn sốt rét bắt đầu kéo đến. Như mọi lần, nó bắt đầu từ xương khu quặn
lên như con rắn bò, đến cục thuốc nó dừng lại và quặn vòng quanh đó dữ lắm rồi
lại ngưng, làm như vậy ba lần rồi ngưng luôn. Từ đó căn bệnh sốt rét dứt hẳn.
Sau khi hết bệnh, Hòa Thượng ở lại chùa đó một thời gian ngắn
nữa. Về sau, có người em gái họ đã xuất gia, Pháp danh là Diệu Trí ghé thăm. Cô
ấy có khoe với Hòa Thượng là được học kinh này kinh nọ và khuyên Hòa Thượng nên
tìm học. Lúc bấy giờ, chỉ có trường An Nam Phật Học mở ở chùa Báo Quốc tại Huế,
trong tâm Hòa Thượng khởi ý đi Huế từ đó.
Đầu
năm 1940, Hòa Thượng về lại Cái Tàu để xin giấy ra Huế học, nhưng chính quyền
không cho, bảo Hòa Thượng phải ở lại năm bảy tháng mới cấp giấy. Hòa Thượng
không chờ được nên lên Sài Gòn tìm cơ hội để đi, được một thí chủ là ba Ba Hộ
(chủ đất chùa Vạn Đức) cúng dường 15 đồng làm lộ phí. Đúng ra, đi tàu suốt đến
Huế thì khỏe hơn, nhưng bấy giờ, Huế thuộc vùng bảo hộ của Pháp, còn miền Nam là
thuộc địa, nên ra đấy phải có giấy như xin Passport ra nước ngoài vậy. Vì thế,
Hòa Thượng phải đi từng chặng. Hòa Thượng lên tàu đi Phan Thiết, đến nơi thì đã
trưa, Hòa Thượng kêu xe kéo đến chùa nào gần cũng được, vì thật sự cũng không
biết chùa nào mà đến. Xe kéo Hòa Thượng đến chùa Bình Quang, Hòa Thượng vào chùa
xin cơm. Chùa dọn cơm xong, lúc sắp ăn thì vị Ni trụ trì nói: “Huynh à! Chư Tăng
ở đây đi đường hay ăn cơm là phải mặc áo dài, sao huynh không mặc?”. Hòa Thượng
làm thinh, trong bụng thầm nghĩ: “Cũng muốn mặc lắm nhưng có đâu mà mặc”. Sau
này vị Ni đó vẫn còn nhớ chuyện cũ, trong tâm tiếc rằng phải chi lúc ấy cúng
dường cho Hòa Thượng một hai cái áo dài nào có khó gì, lại còn gieo được phước
lành cúng dường bước đầu cho một vị cao Tăng sau này.
Sau khi ăn cơm xong, Hòa Thượng lại tiếp tục ra bến xe để đi
Bình Định, vì trước khi đi, Hòa Thượng có đến tòa soạn báo Từ Bi Âm, gặp Hòa
Thượng trụ trì chùa Liên Tôn ở Bình Định, lúc đó là Phó chủ bút, còn Hòa Thượng
Bich Liên làm chủ bút. Ra đến Bình Định, Hòa Thượng tìm lại chùa Liên Tôn. Hôm
đó, Hòa Thượng trụ trì còn ở Thành phố chưa về. Trong chùa, chỉ có một vị thầy
trông coi gọi là thầy Khố. Ít hôm sau, Hòa Thượng trụ trì về, có cả cô Diệu Trí
và có thị giả. Hòa Thượng bèn xin tạm ở đây tu học. Hòa Thượng trụ trì nhờ Hòa
Thượng viết lại Bát Nhã Tâm Kinh mà Hòa Thượng đã giảng và in từng kỳ trong báo
Từ Bi Âm, ghép lại thành tập để in ra phổ biến. Thời gian đó, Hòa Thượng trụ trì
có giảng “Cảnh Sách Cú Thích Ký”, chủ yếu là dạy cho cô thị giả, Hòa Thượng và
cô Diệu Trí cũng theo học. Cô Diệu Trí có nhờ ngoài Bắc thỉnh một số kinh chữ
Hán, giúp đỡ cho Hòa Thượng có tài liệu để học. Cô Diệu Trí đề nghị Hòa Thượng
nên ra Huế vào trường học tốt hơn. Thế nên, Hòa Thượng ở đó được ba tháng thì
tiếp tục lên đường ra Huế, còn cô Diệu Trí thì về lại
Sài Gòn. Lúc đó là tháng 08
năm 1940.
Ra đến Huế, Hòa Thượng cũng không biết đến chùa nào, mới nhờ
mấy người kéo xe. Họ nói ở chùa Tây Thiên có quí thầy ở miền Nam ra. Hòa Thượng
nhờ họ kéo đến đó. Chùa Tây Thiên là chùa của Hòa Thượng Giác Nhiên, vị tăng
Thống thứ hai của GHPGVNTN. Ở đó, Hòa Thượng gặp Hòa Thượng Thiện Hòa, Thiện
Hoa. Hòa Thượng Giác Tâm chùa Duyên Giác ở Bến Tre thì đã ra trường trước. Ở đây
cũng có dạy kinh Lăng Nghiêm. Sau buổi học, thầy Giác Tâm bảo Hòa Thượng đọc lại
phần đã học. Hòa Thượng đọc lại, giảng nghĩa rành rẽ. Thầy Giác Tâm thấy thế mới
đề nghị Hòa Thượng nên đến trường lớp, vấn đề liên hệ thầy Giác Tâm sẽ lo cho.
Hòa thượng được nhận vào học và được cấp học bổng, vì một
thân một mình không ai bảo trợ. Khi Hòa thượng vào học thì lớp đó là năm thứ sáu
của Tiểu học (Sơ cấp) còn vài tháng nữa là thi lên Trung học (Trung cấp). Các
môn khác thì Hòa thượng học không khó lắm, chỉ có môn Duy Thức là mù tịt không
biết gì. Lúc đó đang dạy Duy Thức Dị Giản sắp hết, Hòa thượng mới mượn tập xem
lại từ đầu và dần dần hiểu ra. Sao khi hết quyển cho làm bài kiểm tra với chủ đề
là Bát Thức Đồng Dị. Bài đó, Hòa thượng được chấm chín điểm rưỡi, cao nhất lớp.
Việc này đã làm xao động trong chúng. Hòa thượng được Hòa thượng Đốc Giáo để ý.
Đến cuối năm, khi thi lên Trung cấp, học chúng lo ngại nếu Hòa thượng đứng đầu
thì mất thể diện những người học lâu. Sau khi thi viết, đến phần khảo hạch
miệng. Bác sĩ Lê Đình Thám phụ trách môn này. Cách thi là lật quyển sách nhằm
trang nào thì giải thích trang đó. Vì lật nhằm trang chưa học nên Hòa thượng
giải thích chưa được trúng lắm. Giáo sư Lê Đình Thám cười và nói: "Chú này đến
sau, mà sau này sẽ hữu dụng!". Chung cuộc, Hòa thượng cũng được đứng hạng bảy.
Đầu năm 1941, Hòa thượng thọ giới Sa-di tại Huế với Đại lão
Hòa thượng chùa Quốc Ân. Sau đó, tiếp tục học lên Trung đẳng và tốt nghiệp vào
cuối năm 1942. Đến năm 1945 thì tốt nghiệp Cao đẳng. Cũng năm này, trường An Nam
Phật Học dời vào Tòng Lâm Kim Sơn, Hòa Thượng được Hội và Ban giám đốc cử làm
Giám viện Quản đốc trường. Kế đó, vì nạn đói ở Huế cũng như cả miền Bắc, nhà
trường quyết định chuyển học Tăng Sơ đẳng và Trung đẳng khoảng 40 vị vào Nam và
giao toàn chúng cho Hòa thượng quản lý. Hòa thượng Thiện Hoa và Hòa thượng Trí
Quang lo chỗ nơi, mục tiêu hướng đến là Lưỡng Xuyên Phật Học. Vào đến Nam, đoàn
học Tăng tạm ở lại chùa Vĩnh Tràng, Mỹ Tho do thầy Trí Long trụ trì. Thầy Trí
Long cũng là một học Tăng trong đoàn. Hòa thượng Thiện Hoa và Hòa thượng Trí
Quang trở về Lưỡng Xuyên lo sắp xếp, còn Hòa thượng về chùa Kim Huê, Sa Đéc tạm
ở và lo nhập thất. Ngày 19 tháng 06 năm 1945, Hòa thượng được thọ Đại giới tại
Đại Giới Đàn tổ chức tại chùa Long An, Sa Đéc, do Đại lão Hòa thượng chùa Kim
Huê làm Hòa thượng đàn đầu.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 phát động, Lưỡng Xuyên Phật Học
bị phân tán. Hòa thượng Thiện Hoa về chùa Phật Quang ở Trà ôn, Cần Thơ do Hòa
thượng Thiện Tâm là anh ruột làm trụ trì, xây dựng tạm mái trường. Hòa thượng từ
Sa Đéc về Phật Quang, cùng Hòa thượng Thiện Hoa tập họp các học Tăng lập thành
trường Phật Học Phật Quang, khai giảng vào cuối năm. Học Tăng trường Phật Quang
phần đông là học viên mới còn tốp cũ phần động tự phân tán vì quốc biến.
Cuối năm 1946, gặp nạn thổ dậy, địa phương không được ổn
định. Hòa thượng dời một số học Tăng về tạm ở chùa Vạn Phưóc, Phú Lâm, Chợ Lớn.
Sau đó, Hòa Thượng cùng thầy Huyền Dung xây dựng thành lập Liên Hải Phật Học
Trường, quy tụ số học tăng khoảng 70 vị từ khắp các nơi về. Trong đó có Hòa
Thượng Đạt Từ ở chùa Thiền Tôn (Thủ Đức) đến giúp và giữ chức Giám trường, Hòa
Thượng Quảng Liên và Hòa Thượng Quảng Huệ cũng về hợp tác, thầy Minh Cảnh được
xuất gia ở đây, Hòa Thượng đã tổ chức được một Đại giới đàn tại đây và Hòa
Thượng Quảng Liên cũng như Hòa Thượng Bửu Huệ được thọ Đại Giới tại giới đàn
này.
Đến năm 1950, Hòa Thượng có bệnh phải đi dưỡng bệnh ở chùa
Linh Sơn, Cổ Tự (Vũng Tàu), nên giao toàn trường cho Hòa Thượng Thiện Hoa vừa ở
Bắc về quản lý. Năm 1951, Hội chùa Linh Sơn thỉnh Hòa Thượng làm trụ trì và giao
toàn quyền quản lý.
Năm 1952, Giáo Hội Tăng Già Nam Việt được thành lập ở
Sài Gòn,
Hòa Thượng được mời giữ chức Trưởng Ban Giáo Dục và Trưởng Ban Giám Luật. Kế đó,
Giáo Hội Tăng Già toàn quốc được thành lập, Hòa Thượng được cử vào các chức vụ:
Trưởng Ban Giáo Dục, Ủy viên Phiên Dịch Tam Tạng và Phó Trị Sự Trưởng, vì có
nhiều trọng trách trong GIáo Hội nên tháng 04 năm 1954, Hòa Thượng trao quyền
trụ trì chùa Linh Sơn lại cho Thượng Tọa Tịnh Viên, cho đến năm 1995 thì Thượng
Tọa Tịnh Viên viên tịch.
Với hoài bão truyền đăng tục diệm, hoằng dương chánh pháp,
kiến tạo Già Lam, Hòa Thượng được Phật tử cung thỉnh về ngôi chùa cổ kinh không
người thừa kế trên một vùng đất hoang vu vắng vẻ ít người đi lại, tọa lạc tại ấp
Bình Đức, xã Tâm Bình, quận Thủ Đức, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, TPHCM. Nơi
đây, Hòa Thượng khai sơn tạo dựng Già Lam, lấy tên là Vạn Đức. Lần lần, do uy
tín và đạo đức của Hòa Thượng, Tăng Ni quy tụ về cất chùa am chung quanh, biến
nơi này thành một đạo tràng lớn mà hiện nay, nói đến đạo tràng Vạn Đức ai ai
cũng đều biết.
Năm 1955, với chí nguyện hoằng dương tịnh Độ, hướng dẫn chúng
sanh đời mạt pháp, Hòa Thượng thành lập Cực Lạc Liên Hữu, khuyến tấn người niệm
Phật, cầu vãng sanh Tịnh Độ. Cực Lạc Liên Hữu được Hòa Thượng khai hóa đã khơi
dậy phong trào tu tập, khuyến tấn hành giả tín hướng chỉ quy Tịnh Độ. Hòa Thượng
là vị Tổ Sư đương thời chấn hưng Tịnh Tông trong tòa nhà Phật Giáo Việt Nam. Hòa
Thượng rất quán triệt Thánh điển, tinh tường y dược Đông Phương, Tăng Ni, Phật
tử Việt Nam thấm nhuần được kinh điển Đại Thừa phần lớn do công trình dịch thuật
của Hòa Thượng...
Hòa Thượng Thích Thiện Thông
 |
| Hòa thượng Thích Thiện Thông |
Hòa
thượng thuộc dòng thiền Lâm Tế chánh tông đời thứ 41, pháp húy Nhật
Chí, hiệu Thiện Thông, thế danh Hồ Tấn Phát, sinh năm Mậu Thìn (1927),
tại làng Bình Thạnh Đông, huyện Lấp Vò, Long Xuyên, (nay Đồng Tháp).
Thân phụ là cụ ông Hồ văn Nên (tự Nhiêu) pháp danh Hồng Thành, Hiền mẫu
là cụ bà Lê Thị Kim pháp danh Diệu Ngọc, Ngài là con cả trong gia đình,
có bảy người anh em (4 trai, 3 gái) song thân là Phật tử thuần thành
kính tin Tam Bảo, gia đình trung lưu trí thức...
http://tongiaovadantoc.com/c1046/20130409105356082/htthich-thien-thong-nha-su-dan-than-cuu-quoc.htm
Tổng hợp bài viết PT. Hoằng Thanh