Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Từ Hiệp
(1920 – 2013)
- THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG CHỨNG MINH TRUNG ƯƠNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM,
- CHỨNG MINH BTS PHẬT GIÁO TP HỒ CHÍ MINH
- KHAI SƠN CHÙA PHƯỚC DUYÊN, PHƯƠNG TRƯỢNG CHÙA LONG BỬU QUẬN. 4 – TP.HCM
Đại lão Hòa Thượng pháp huý thượng
Từ hạ Hiệp hiệu Thích Minh Hiện đời thứ 45 thuộc dòng Thiền Lâm Tế Tế
Thượng, thế danh Trần Văn Tạ, xuất thế năm Canh Thân (1920) tại làng
Thân Bằng Hưng, xã Nam Lợi, huyện Nam Ninh, Tỉnh Nam Định.
Thân phụ của Ngài là cụ ông Trần
Văn Cẩn, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Tứ, gia đình Ngài gồm có 4 anh chị
em, 3 trai 1 gái, Hòa Thượng là người con thứ 2 trong gia đình.
Hòa Thượng được sinh ra trong một
gia đình thuần nông, nhiều đời kính tin Phật Pháp, thuở thiếu thời ngoài
thời gian học hành và giúp đỡ song thân lo việc đồng áng ra Ngài thường
lui tới chùa Ngọc Tỉnh trong làng lễ Phật nghe kinh, vun bồi Phật
chủng.
Cuộc chiến tranh Pháp Nhật giày xéo
non sông, nhân dân lầm than ly tán, Hòa Thượng đành lìa bỏ nơi chôn
nhau cắt rốn lánh nạn vào Nam. Năm 1943 Ngài theo Tổ Trực An vào Sài Gòn
tạm trú tại chùa Phổ Quang trong nghĩa địa Bắc Kỳ gần sân bay Tân Sơn
Nhất.
Nước mất nhà tan, người làm trai ai
cũng đều có trách nhiệm cứu dân cứu nước, năm 1945 theo tiếng gọi cứu
quốc của Việt minh Ngài tham gia cách mạng, tòng quân đi bộ đội thuộc sư
đoàn 309 tại Bến Cỏ, Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, trong những năm
tháng này Ngài lập gia đình.
Năm 1949 Ngài bị giặc Pháp bắt sau
đó Ngài được thả về trú ngụ tại Cầu Dừa quận 4 tp Sài Gòn và hoạt động
cách mạng tại đây, năm 1950 Ngài bị bắt lần thứ 2, đến năm 1953 Ngài
được thả về và từ đó mất liên lạc với cơ sở.
Với tâm nguyện cứu dân cứu nước,
với tấm lòng giữ trọn tâm thành tận trung với sự nghiệp cách mạng giải
phóng dân tộc của mình, Hòa Thượng quyết tìm ra con đường để tiếp nối và
hoàn thành tâm nguyện đó, Ngài nhận ra rằng chỉ có con đường xuất gia
tu hành mới có thể giúp Ngài giữ trọn được niềm tin và hoàn thành tâm
nguyện nên Ngài phát tâm xuất gia học đạo.
Năm 1954 Ngài đến Linh Quang Tịnh
Xá quận 4 lễ Ngài Hòa Thượng thượng Phổ hạ Ứng làm thầy, xuất gia làm
Tăng, được bổn sư truyền thụ Sa Di giới cho Pháp danh là Từ Hiệp, sau
một thời gian tu học tại đây, Ngài xin Hòa thượng bổn sư cho đi học Phật
học tại Tổ đình Vạn Thọ ở Tân Định, trong thời gian tu học ở đây Ngài
cầu Hòa Thượng Thích Thiện Tường là Y chỉ sư và được Hòa Thượng cho thụ
giới Tỳ Kheo và ban cho Pháp hiệu là Thích Minh Hiện, từ đây tướng Tăng
già tròn đủ, tâm Đại sĩ viên thành, Ngài phát nguyện hoằng pháp lợi
sanh.
Năm 1958 Ngài theo học lớp Như Lai
Sứ Giả tại chùa Pháp Hội. Năm 1960 Ngài theo sự chỉ dạy của Hòa Thượng
Thiện Tường về Trụ trì Chùa Giác Nguyên quận 4. Năm 1960 Ngài khai sơn
chùa Phước Duyên Quận 4, thời gian này Ngài tích cực tham gia phong trào
chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm trong Pháp nạn 1963.
Sau đó Ngài phát nguyện về miền Tây
hoằng dương Phật Pháp. Năm 1964 Ngài trùng tu tái kiến Chùa Linh Quang
tại Trà Ôn. Năm 1966 khai sơn chùa Phước Quang - Tam Bình - Vĩnh Long.
Năm 1967 Ngài được Giáo hội bổ nhiệm trụ trì chùa Phước Minh - Trà Vinh.
Năm 1969 Ngài về trụ trì chùa Long Phước, Vĩnh Long. Năm 1970 Ngài khai
sơn chùa Bửu An - Cầu Mới - Vĩnh Long.
Năm 1971 Ngài về hoằng pháp tại sài
gòn, tiếp nhận chùa Long Bửu do gia đình Phật tử Nguyễn Thị Năm pháp
danh Hồng Mỹ hiến cúng. Năm 1972 Ngài khai sơn chùa Hưng Long quận 4 và
trong năm này Ngài cũng khai sơn Niệm Phật Đường Đại Hải quận 4.
Từ Năm 1972 đến năm 1975 Ngài được
suy cử làm Phó đại diện Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất quận 4. Năm 1976
đến năm 1982 Ngài là phó ban liên lạc Phật Giáo yêu nước quận 4.
Năm 1981 Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam thành lập, Ngài được suy cử làm Phó đại diện Phật Giáo, cũng như
Chánh đại diện Phật Giáo Quận 4 suốt nhiều nhiệm kỳ. Năm 1992 Ngài được
tấn phong lên hàng giáo phẩm Hòa Thượng.
Từ năm 1985 đến năm 1990 Ngài là ủy
viên Mặt trận tổ quốc quận 4 và được chính quyền nhà nước và Giáo Hội
Phật Giáo tặng thưởng huân, huy chương và các bằng khen thưởng có công
với đất nước và Phật Giáo.
Năm 1996 Ngài động thổ trùng kiến
ngôi Già lam Long Bửu để làm cơ sở hoằng dương Phật Pháp tiếp dẫn hậu
côn. Năm 2003 Ngài giao trách nhiệm trụ trì chùa Phước Duyên cho đệ tử
Ngài là Đại Đức Thích Minh Bảo. Đến năm 2008 vì tuổi già sức yếu Ngài
đem Phật sự của chùa Long Bửu giao lại cho Đại Đức Thích Minh Quang kế
nhiệm Trụ trì.
Trong suốt cuộc đời hoằng dương
Thánh giáo Ngài tham gia mở các trường Phật học, khai mở các hạ trường
để tiếp Tăng độ chúng đào tạo Tăng tài, Ngài mở trường hạ tại chùa Long
Bửu trong suốt 15 năm, từ năm 1989 đến năm 2006.
Năm 2012 Ngài được cung thỉnh vào
ban chứng minh Giáo Hội Phật Giáo Tp. Hồ Chí Minh, cuối năm này trong
đại hội đại biểu Phật Giáo toàn quốc tại Hà Nội, Ngài được suy cử vào
thành viên Hội Đồng Chứng Minh Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
Ngày qua tháng lại thấm thoát đã
bạc đầu, duyên hợp rồi tan, trăng tròn lại khuyết, Vạn Hạnh Thiền Sư dạy
“Thân như điện chớp có rồi không” Vô Thường luật định. Tổ Quy Sơn dạy
“Ngày qua tháng lại phút chốc đã bạc đầu” vóc dáng “Vân du ba ngàn thế
giới” nay “chốn Thiền Đường bạch phát thiền ông” bao nhiêu tháng năm
hoằng hóa chốn nhân gian, biết bao tuế nguyệt dựng xây Tăng già, tự
viện. Nay Tăng đồ nhị chúng đệ tử tinh tấn tu trì, phát nguyện xuất trần
hoằng pháp, đều được Ngài ung đúc thành “Pháp Khí Đại thừa” Tăng tục
duyên tròn, Tông phong đại chấn.
Hóa độ nhân gian đã đến kỳ ký tất,
duyên ở Ta Bà đã đến lúc chung quy “Bất cấu bất nhiễm thị Tây Phương, vô
não vô ưu chân cực lạc”. Vào ngày mùng 2 tháng 3 năm Qúi Tỵ (2013) Hòa
Thượng thọ bệnh, đến Ngày mùng 9 tháng 4 năm Quý Tỵ Ngài thuận thế vô
thường, xã báo an tường, thâu thần thị tịch. 94 xuân thu trụ thế nhân
gian 70 hạ lạp truyền trì mạch đạo.
“Lấy xây dựng Tòng lâm làm tông
chỉ, dùng việc giáo dục bồi dưỡng Tăng tài làm sự nghiệp”, Hòa Thượng
một đời dấn thân vì Đạo, một kiếp hưng giáo Đại Thừa, với Tông phong một
lòng hưng chấn, với Tổ nghiệp nhất tâm truyền thừa.
Nay quảy dép về Tây nhưng pháp thân
thường trụ, ân đức của Hòa Thượng Tăng ni quận 4 luôn luôn ghi nhớ, ý
niệm xã thân vì đạo của Ngài Phật tử khắp vùng mông huân. Kính nguyện
Giác Linh Hòa Thượng Tôn sư cao đăng Phật Quốc, hồi nhập Ta Bà, thừa đại
nguyện lực, tiếp độ quần sanh, nương giới đức hoằng dương Thánh giáo.
Nam Mô Lâm Tế Tế Thượng chánh tông
tứ thập ngũ thế Khai Sơn Phước Duyên Tự, trung hưng Long Bửu tự húy
thượng Từ hạ Hiệp hiệu Minh Hiện Đaị Lão Hòa Thượng Giác Linh nghê tọa
đài tiền chứng giám.
Môn Đồ Tứ Chúng Đồng Bái Soạn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét